MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume) thuộc họ Lan (Orchidaceae Juss.), trên thế giới có khoảng 45 loài. Ở Việt Nam, theo Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2005) chi Kim tuyến có 12 loài [4]. Trong đó năm loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam, đó là: Anoectochilus acalcaratus Aver., Anoectochilus calcareus Aver., Anoectochilus chapaensis Gagnep.
setaceus Blume, Anoectochilus tridentatus Seidenf. Chi này nằm trong danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IA) của Nghị định số 32/2006/NĐ- CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thƣơng mại. Mặt khác, trong chi lan kim tuyến (Anoectochilus Blume), có nhiều loài là nguồn nguyên liệu dƣợc liệu quý, có giá trị sử dụng cao (đặc biệt dùng làm thuốc) nhƣ: Anoectochilus koshunensis, Anoectochilus sandvicensis, Anoectochilus zhejiangensis, Anoectochilus setaceus…đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng trong tự nhiên. Ngày nay, với sự phát triển nhảy vọt của các hoạt động khoa học, đã đánh giá đúng tầm quan trọng và giá trị dƣợc liệu của các loài Kim tuyến.
Từ đó nâng cao nhận thức trong việc bảo vệ, phát triển nguồn gen và khai thác hợp lý loài Kim tuyến. Tuy nhiên, tại Việt Nam cho đến nay, các nghiên cứu về chi Kim tuyến còn rất hạn chế. Vì vậy việc cung cấp thêm những dữ liệu khoa học cho chi này là cần thiết và cấp bách, góp phần vào việc bảo tồn, phát triển nguồn gen và khai thác hợp lý nguồn dƣợc liệu quý hiếm này. Do đó, chúng tôi chọn “Nhận diện mẫu lan Kim Tuyến (Anoectochilus) tại Việt Nam dựa trên đặc điểm hình thái, giải phẫu và trình tự nucleotit gen phân loại” 2.
Mục tiêu nghiên cứu Phân tích đƣợc đặc điểm hình thái, giải phẫu, trình tự gen rpoC1 và vùng ITS nhằm xác định mối quan hệ chủng loài của hai mẫu lan kim tuyến thu tại 2 Thanh Hóa và Sơn La, góp phần và việc tƣ liệu hóa phục vụ bảo tồn, lƣu giữ nguồn gen loài lan kim tuyến tại Việt Nam. Nội dung nghiên cứu i) Nghiên cứu so sánh đặc điểm hình thái. ii) Nghiên cứu so sánh đặc điểm giải phẫu lá, thân, rễ của lan kim tuyến thu tại Thanh Hóa và Sơn La. iii) Phân tích đặc điểm về trình tự nucleotide của gen rpoC1 và vùng ITS của các mẫu nghiên cứu và so sánh với một số trình tự nucleotide của gen rpoC1 và ITS của cây lan kim tuyến đã công bố trên Ngân hàng gen quốc tế.
3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume) 1.Vị trí phân loại của chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume) Chi Kim tuyến (Anoectochilus) đƣợc Carlvon Blume mô tả lần đầu tiên năm 1825, là một chi thực vật có hoa thuộc họ Lan (Orchidaceae). Trên thế giới, chi này có khoảng 45 loài [32]; [33]. Danh sách các loài thuộc chi Kim tuyến (nguồn: https://www.
Anoectochilus albomarginatus Loudon 3. Anoectochilus annamensis Aver. Anoectochilus brevilabris Lindl. Anoectochilus burmannicus Rolfe 7.
Anoectochilus calcareus Aver. Anoectochilus chapaensis Gagnep. Anoectochilus daoensis Gagnep. Anoectochilus dewildeorum Ormerod.
Anoectochilus elatus Lindl. Anoectochilus falconis Ormerod. Anoectochilus flavescens Blume 15. Anoectochilus formosanus Hayata 16.
Anoectochilus geniculatus Ridl. Anoectochilus grandiflorus Lindl. Anoectochilus imitans Schltr. Anoectochilus insignis Schltr.
Anoectochilus integrilabris Carr. Anoectochilus klabatensis (Schltr. Anoectochilus koshunensis Hayata 25. Anoectochilus lylei Rolfe ex Downie 27.
Anoectochilus narasimhanii Sumathi & al. Anoectochilus papuanus (Schltr. Anoectochilus pectinatus (Hook. Anoectochilus petelotii (Gagnep.
Anoectochilus reinwardtii Blume. Anoectochilus rhombilabius Ormerod. Anoectochilus sandvicensis Lindl. Anoectochilus setaceus Blume 38.
Anoectochilus sikkimensis King & Pantl. Anoectochilus subregularis (Rchb. Anoectochilus tetrapterus Hook. Anoectochilus tridentatus Seidenf.Chang Trong đó có 3 loài có tên trong danh lục đỏ của thế giới, đó là: Anoectochilus koshunensis, Anoectochilus sandvicensis và Anoectochilus zhejiangensis [34].
Anoectochilus koshunensis đƣợc tác giả Hayata mô tả và phân loại năm 1914 nhƣng không có chú thích về mẫu vật (Synonyms: Odontochilus koshunensis (Hayata) Ying S. Loài này đƣợc tìm thấy ở quần đảo Ryukyu và Đài Loan trong các cánh rừng lá rộng, thƣờng xanh ở độ cao từ 700 đến 2000 m. Cây thân thảo nhỏ, ít lá từ 3 - 6 lá mọc so le, lá mặt trên màu xanh 5 đậm có đƣờng vân kim tuyến màu vàng hoặc màu trắng. Cây ra hoa vào mùa hè và đầu mùa thu, hoa màu trắng.
Anoectochilus koshunensis bị đe doạ tuyệt chủng do tình trạng khai thác quá mức. Cho đến nay, Đài Loan đã nhân giống và nuôi trồng đƣợc chúng nhƣng các thông tin còn chƣa đƣợc cập nhật đầy đủ. Anoectochilus sandvicensis Lindl. là loài phổ biết nhất trong ba loài hoa phong lan đặc hữu ở quần đảo Hawaii.
Loài này phân bố hầu hết trên các hòn đảo chính dƣới tán cây râm mát. Thân thảo nhỏ, lá màu xanh, hoa màu vàng xanh. Mối đe dọa chính của loài này là các loài xâm hại, đặc biệt là loài ốc sên.Chang là loài thân thảo nhỏ cao khoảng 8-16cm, cây có 2-6 lá hình trứng, mặt trên màu xanh đen, mặt dƣới màu đỏ nâu, hoa màu trắng. Cây ra hoa từ tháng 7- 9.
Loài này phân bố trong những khu rừng rậm ở độ cao 700- 1200 m ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Tây, Chiết Giang , Trung Quốc. Loài này có nguy cơ tuyệt chủng do vùng phân bố hẹp và bị khai thác quá mức [17]. Giá trị dƣợc học của chi Kim tuyến Theo y học cổ truyền, Kim tuyến đƣợc mô tả là cây thân thảo nhỏ mọc từ đất, có vị ngọt, hơi chát, tính mát. Bộ phận dùng là toàn thân, đƣợc thu hái quanh năm, rửa sạch, dùng tƣơi hoặc khô.
Theo dƣợc điển của Đài Loan, Kim tuyến chữa trị bệnh phổi, di tinh, xuất tinh sớm, yếu gan, yếu tỳ và các vết thƣơng do rắn cắn; còn có tác dụng bổ máu, giải nhiệt. Kim tuyến có tác dụng tăng cƣờng sức khỏe, làm khí huyết lƣu thông, có tính kháng khuẩn, chữa các bệnh viêm khí quản. Cách điều trị là đắp bên ngoài để trị các chỗ sƣng vết thƣơng và chỗ rắn cắn. Trong sách “Thạch thảo gia đình tƣ liệu” của Trần Đào Thích viết Trẻ em hay khóc đêm dùng loài thảo mộc này sắc uống sẽ khỏi.
Theo Tạ A Mộc và Trần Kiến Đào (1958) Kim tuyến là một trong những dƣợc thảo quý giá, giúp bổ máu, dƣỡng âm, chữa trị nóng phổi và nóng gan. Trong nghiên cứu điều tra của Cam Vĩ Tùng (1964) cũng cho thấy Kim tuyến là một vị thuốc rất quý giá trong các tiệm thuốc bắc Đài Loan, là cây 6 thuốc mang tính mát và có vị ngọt, thanh nhiệt, thanh huyết, bổ phổi, giải trừ u uất, thông trung khí, bồi dƣỡng sức khỏe, chủ trị lục phủ ngũ tạng đẩy lùi tâm hỏa, nóng gan, bệnh phổi, thổ huyết, ho hen, đau ngực, đau lá lách, đau cuống họng, cao huyết áp, trẻ con chậm lớn, suy thận. Những ngƣời dân miền núi thƣờng dùng Kim tuyến sắc uống, giúp chữa trị đau bụng, đau ruột, sốt cao. Kim tuyến có tính kháng khuẩn, giúp chữa các bệnh viêm gan mãn tính, bệnh viêm khí quản.
Ngoài ra, cây thuốc còn có công dụng trị các bệnh nhƣ thần kinh suy nhƣợc, đau lƣng, phong thấp, chữa ho khan, đau họng, cao huyết áp, suy thận, làm tiêu đờm, giải độc, giải nhiệt, chữa di tinh. Kim tuyến dùng cả cây tƣơi hoặc khô sắc uống. Liều dùng trong ngày khoảng 20g tƣơi hoặc 5g khô. Có thể dùng cả cây tƣơi giã nát đắp chỗ vết thƣơng sƣng đau.
Một số bài thuốc từ Kim tuyến của phòng khám đông y Thọ Xuân Đƣờng nhƣ sau: 1) Bài thuốc chữa thần kinh suy nhƣợc, mất ngủ: 25g lan gấm, 12g hoa nhài, 10g hoa thiên lý, 8g tâm sen, 8g ngƣu tất, 15g mạch môn, 10g huyền sâm, 20g quyết minh tử, 8g cam thảo đất, 12g hoài sơn, sắc uống. Mỗi ngày sắc 1 thang, chia làm 3 lần trong ngày, dùng 3 – 5 thang. 2) Bài thuốc chữa kém ăn: 25g lan gấm, 8g liên nhục, 6g sơn tra, 5g trần bì, 20g huyền sâm, 5g quyết minh tử, 10g hoài sơn, sắc uống. Mỗi ngày sắc 1 thang, chia làm 3 lần trong ngày, dùng 5 – 7 thang.
3) Bài thuốc chữa ho khạc ra máu: 30g lan gấm, 15g ngƣu tất, 15g quyết minh tử, 20g hoài sơn, 20g huyền sâm, 25g mạch môn, sắc uống. Mỗi ngày sắc 1 thang, chia làm 3 lần trong ngày, dùng 5 – 7 thang. Ngày nay, Y học hiện đại đã phân tích và xác định đƣợc chi Anoectochilus chứa các thành phần hoạt chất có dƣợc tính quan trọng bao gồm: Flavonoid (quercetin, isorhamnetin), steroid (24 ~ isopropenyl cholesterol, sterol, ergosrol, stigmasterol, campesterol, sitosterol β-), trierpenoids (friedelin, axít succinic, axít coumaric, axít ferulic, daocosterol, axít palmitic, axit aleanolic, axít bearberry) và đƣờng (polysaccharides 13,32%, oligosacharides 11,24%, đƣờng đơn 9,73%), alkaloid, glycoside tim mạch, 7 este, taurine, axít amin, các chất khoáng đa lƣợng và vi lƣợng… Thành phần polysaccharide, taurine, axít amin và các chất khoáng đa vi lƣợng có trong Anoectochilus còn cao hơn cả loài nhân sâm mọc hoang dã nên còn đƣợc xƣng tụng là Nam Trùng Thảo. Tình hình nghiên cứu về chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume) 1.
Tình hình nghiên cứu về chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume) trên thế giới Những kết quả nghiên cứu về chi Kim tuyến trên thế giới chủ yếu tập trung ở Trung Quốc, ngoài ra, còn có các quốc gia nhƣ Ấn Độ, Thái Lan và các nƣớc Đông Nam Á khác. Nhƣng nghiên cứu về chi Kim tuyến đi theo ba hƣớng chính là nghiên cứu về đa dạng thực vật (thành phần loài, vùng phân bố, thực trạng…), nghiên cứu về giá trị dƣợc liệu, nghiên cứu về giải pháp nhân giống và nuôi trồng. Tuy nhiên việc nghiên cứu về đa dạng di truyền cũng nhƣ phân tích so sánh hình thái giải phẫu còn hạn chế. Tình hình nghiên cứu về chi Kim tuyến ở Việt Nam Tại Việt Nam, việc nghiên cứu chi Anoectochilus chủ yếu theo hƣớng đánh giá đa dạng loài, nghiên cứu nhân giống, … Về đa dạng loài, chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume) thuộc họ Lan (Orchidaceae), là họ thực vật lớn nhất ở Việt Nam với khoảng 900 loài thuộc 154 chi [4], [8].
Cùng với nhiều chi khác thuộc họ Lan, những kết quả nghiên cứu về thành phần loài và vùng phân bố của chi Kim tuyến đã đƣợc nhiều tác giả công bố từ những năm 90 đến nay nhƣ sau: Theo Phạm Hoàng Hộ (2000) chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume) ở Việt Nam gồm có 6 loài là: 1. Anoectochilus brevistylus (Hook.) Ridley – Giải thùy vòi ngắn 2. Anoectochilus chapaensis Gagnep. - Giải thùy sa pa 3.
Anoectochilus elwesii (Hook. - Giải thùy elwes 4. Anoectochilus lanceolatus Lindl. - Giải thùy thon 5.
Anoectochilus lylei Rolfe ex Downie – Giải thùy Lyle 6. Anoectochilus roxburghii (Wall. – Giải thùy roxburghii [7] Trong khi đó, Nguyễn Thiện Tịch và cộng sự (2001) lại cho rằng, chi Kim 8 tuyến ở Việt Nam có 9 loài là: 1. Anoectochilus chapaensis Gagnep.
Clarke ex Hook. Anoectochilus lanceolatus Lindl 4. Anoectochilus pomrangianus Seidenf. Anoectochilus brevistylus (Hook.
Anoectochilus roxburghii (Wall. Anoectochilus siamensis Schltr. Anoectochilus lylei Rolfe ex Downie 9. Anoectochilus tridentatus Seidenf.
ex Aver Trong đó, có 2 loài đặc hữu Việt Nam là Anoectochilus daoensis Gagnep. và Anoectochilus tridentatus Seidenf.