CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về cây ổi Ổi (tên khoa học Psidium guajava Linn) là một loại cây ăn quả phổ biến, dễ được tìm thấy ở các nước nhiệt đới (Jianlin Huang et al. Cây ổi thuộc: - Giới: Plantae 2 do an - Bộ: Myrtalet - Họ: Myrtaceae - Chi: Psidium - Loài: Psidium guajava Hình 1. Cây ổi (cayhoacanh.com/cay-oi) 1.1 Nguồn gốc và phân bố Nguồn gốc: Ổi là loài bản địa của vùng nhiệt đới Mỹ, khu vực kéo dài từ phía nam Mexico vào hoặc thông qua Trung Mỹ. Nó đã được lan rộng ra các nơi khác bởi con người, chim và động vật khác để đi đến tất cả các khu vực ấm áp của Mỹ nhiệt đới và ở Tây Ấn (kể từ 1526) (Index of CRFG Publications, 1969-1989 and annual indexes of Fruit Gardener for additional articles on the guava).
Phân bố: Cây ổi được trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khắp thế giới kể từ khi châu Âu chiếm đóng châu Mỹ. Hiện nay, cây ổi được trồng nhiều ở các nước thuộc châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á, vùng Caribbean, cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, và Úc (Index of CRFG Publications, 1969 - 1989 and annual indexes of Fruit Gardener for additional articles on the guava). Qua quá trình trồng trọt và chọn lọc giống, các giống ổi hiện nay cũng rất phong phú, đa dạng. Ngoài giống ổi thường (Psidium guajava) phổ biến khắp thế giới, còn có những giống ổi đặc biệt của địa phương như: ổi trâu, ổi bo, ổi xá lị có quả to nhưng kém thơm ngọt; ổi mỡ, ổi găng, ổi đào, ổi nghệ tuy quả nhỏ nhưng ngọt và rất thơm.
Ở Việt Nam cây ổi thường (Psidium guajava) được nhập vào trồng từ lúc nào không rõ và nó được phát triển 3 do an trên khắp cả nước từ đồng bằng ven biển cho đến vùng núi có độ cao khoảng 1500m trở xuống.2 Đặc điểm sinh học Thân: Thân cây nhỏ, thân đơn phân nhiều cành, chiều cao tối đa có thể lên đến 6,1m, với một tán cây rộng, dạng lan rộng hoặc thẳng đứng. Vỏ của thân non có màu xanh, vỏ thân già màu nâu bóng, trơn và có thể bong ra thành từng mảng (Guava Growing in the Florida Home Landscape - Jonathan H. Crane and Carlos F. Lá: Lá đơn, mọc đối, không có lá kèm.
Phiến lá hình bầu dục, thuôn dài, đầu có lông gai hoặc lõm, dài khoảng 7,6-18cm, rộng 5-7cm, mặt trên màu xanh đậm hơn mặt dưới. Bìa phiến nguyên, ở lá non có đường viền màu hồng tía kéo dài đến tận cuống lá. Gân lá hình lông chim, gân giữa nổi rõ ở mặt dưới, 14-17 cặp gân phụ. Cuống lá màu xanh, hình trụ dài 1-1,3cm, có rãnh cạn ở mặt trên (Guava Growing in the Florida Home Landscape - Jonathan H.
Crane and Carlos F. Hoa: Hoa to, màu trắng, lưỡng tính, mọc riêng lẻ thành từng chùm nhỏ ở nách lá, mỗi chùm từ 2 đến 3 hoa; nhị hoa màu vàng, nhiều hạt phấn nhỏ. Hoa thụ phấn chéo dễ dàng, cho năng suất cao hoặc có thể tự thụ phấn (Guava Growing in the Florida Home Landscape - Jonathan H. Crane and Carlos F.
Quả: Quả mọng hình cầu, hình trứng, hay hình quả lê, đường kính 3-8cm, mang đài tồn tại. Trọng lượng quả khoảng từ 28g-1,4kg. Vỏ quả còn non màu xanh, khi chín chuyển sang màu vàng, thịt vỏ quả màu trắng, vàng hay ửng đỏ. Độ dày của vỏ quả phụ thuộc vào giống cây trồng.
Ruột trắng, vàng hay đỏ. Quả chín có vị chua ngọt hay ngọt và có mùi thơm đặc trưng, có thể ăn tươi, làm mứt hay làm nước giải khát. Hạt nhiều màu vàng nâu hình đa giác (Guava Growing in the Florida Home Landscape - Jonathan H. Crane and Carlos F.3 Các giống ổi phổ biến hiện nay Theo Nguyễn Tiến Tuyền (2013), nước ta hiện nay trồng chủ yếu một số giống ổi sau: ổi Bo, ổi xá lị nghệ, ổi sẻ, ổi mỡ, ổi đào, ổi nghệ; ruột hồng (da láng, da sần) gần đây có một số giống mới không hạt như: ổi không hạt Đài Loan, ổi không hạt Thái Lan, ổi không hạt Malaysia.
Sau đây xin giới thiệu đặc điểm của một số giống ổi phổ biến ở nước ta theo bảng 1. 4 do an Bảng 1. Đặc điểm một số giống ổi ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Huyền, 2013). Mức phổ Đặc tính khuyết Stt Tên giống Đặc tính ưu điểm biến điểm Cây sinh trưởng mạnh, tỉ lệ Vỏ quả hơi sần và lõi đậu quả và năng suất cao, quả quả có hạt cứng (tỉ lệ Ổi xá lị 1 Phổ biến hình quả lê ổn định, thịt quả thịt quả < 77%).
nghệ màu trắng giòn, hương thơm và ngon. Cây sinh trưởng mạnh, tỉ lệ Lõi quả có hạt cứng đậu quả khá cao và năng suất (tỉ lệ thịt quả < 69%), cao, quả hình quả lê ổn định, vị quả đôi khi có vị Ổi ruột hồng 2 Phổ biến vỏ quả láng, thịt quả màu chát. da láng hồng đỏ, khá giòn, hương thơm và vị khá ngon. Cây sinh trưởng khá mạnh, tỉ Lõi quả có hạt cứng lệ đậu quả khá cao và năng và số hạt/quả trung Khá phổ suất cao, quả hình cầu ổn bình (tỉ lệ thịt quả 3 Ổi Đài Loan biến định, vỏ quả láng, thịt quả chiếm <74%).
màu trắng, giòn, hương thơm và vị rất ngon. Cây sinh trưởng khá mạnh, tỉ Quả nhỏ, khối lượng lệ đậu quả khá cao và năng dưới 100g/quả); hạt 4 Ổi sẻ Ít phổ biến suất cao, quả hình cầu-quả lê to, nhiều và cứng, tỉ ổn định, thịt quả màu đỏ, mùi lệ thịt quả thấp. rất thơm và vị ngọt Cây sinh trưởng mạnh, quả Tỉ lệ đậu quả biến thuôn dài khá ổn định, vỏ quả động. Nếu chăm sóc khá láng, thịt quả màu trắng tốt, năng suất có thể Ổi không Khá phổ 5 kem, chắc, giòn, hương thơm đạt khá cao (Năm 1: hạt Thái Lan biến trung bình, vị chua ngọt và 10-12 kg, năm 2: 20- không hạt (tỉ lệ thịt quả cao 25 kg và năm 3: 35- >90%).
Cây sinh trưởng mạnh, thịt Tỉ lệ đậu quả không quả màu trắng, giòn, vị ngọt cao và năng suất Ổi không hơi chua và không hạt (tỉ lệ trung bình, quả hình 6 Ít phổ biến hạt Mã Lai thịt quả cao >90%). cầu hợi dẹp và lệch tâm, vỏ quả sần, quả thơm khá.4 Thành phần hóa học của lá ổi Lá là thành phần rất quan trọng và không thể thiếu trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ổi. Lá thực hiện quá trình hô hấp và giúp quá trình quang hợp diễn ra thuận lợi nhờ những cấu tạo đặc trưng.vn) Thành phần hóa học trong lá ổi gồm: 6% tinh dầu cố định; 0,365% tinh dầu dễ bay hơi (Burkill et al.,1997); nhựa 3,5%; tannin 8,5% và một số hợp chất cố định khác như chất béo; cellulose; chất dịp lục và muối khoáng (Nadkarni et al. Ngoài ra, tinh dầu của lá giàu thành phần cineol; 4 loại acid triterpenic cũng như ba flavonoid là quercetin, 3-L-4-4- arabinofuranoside và 3-L-4-pyranoside có tác dụng kháng khuẩn mạnh (Oliver-Bever et al.2 Giới thiệu về các hợp chất polyphenol Các hợp chất polyphenol là dẫn xuất vòng của benzen với một hoặc nhiều nhóm hydroxyl hơn kết hợp với các vòng thơm, chiếm một trong những nhóm lớn nhất và phân bố rộng rãi nhất của chất phytochemical (Andjelkovic et al.
Polyphenol có nhiều trong thực vật như: rau, quả, hoa và một số bộ phận của thực vật. Do sự phân bố rộng rãi của các hợp chất polyphenol trong các loài thực vật mà chúng đã có nhiều cách phân loại khác nhau như: nguồn gốc, chức năng sinh học, cấu trúc hóa học (Guelph Food Research Centre, 2010). Thông thường, người ta hay phân loại polyphenol theo cấu trúc hóa học của chúng. 6 do an Phân loại: Nhóm phenolic acid: là những hợp chất polyphenolic không flavonoid có thể được chia thành hai loại chính: benzoic acid (C1- C6) và dẫn xuất của acid cinnamic acid (C3- C6) (Chandrasekara et al.
Flavonoid: là những hợp chất có cấu trúc chung C6-C3-C6, trong đó hai đơn vị C6 có cấu trúc phenolic. Polyphenolic amides: Là những polyphenol có chứa nhóm chức liên kết với nitơ, gồm hai loại chính là Avenanthramides trong yến mạch và Capsaicinoids trong ớt (Bratt et al. Các polyphenol khác: resveratrol, lignans, curcumin, rosmarinic acid, gingerol, ellagic acid,. Tác dụng có lợi từ các hợp chất phenolic trong cuộc sống của con người đã được chứng minh thông qua hoạt động chống oxy hóa của chúng, mà chủ yếu là do tính oxy hóa khử (Rice-Evans et al.
Về y học, polyphenol là một trong những hợp chất tự nhiên có nhiều tác dụng như: có tác dụng chống oxy hóa mạnh, kháng viêm, kháng khuẩn, chống dị ứng, chống lão hóa và một số bệnh tật liên quan đến ung thư (Jin and Rusell, 2010). Hợp chất polyphenol chủ yếu của lá ổi là tannin (8,5%) và flavonoid (>1,4%) (Badan et al. Với cấu trúc có nhiều nhóm chức phenol, chúng có khả năng ngăn chặn các chuỗi phản ứng dây chuyền gây ra bởi các gốc tự do bằng cách phản ứng trực tiếp với gốc tự do đó tạo thành một gốc tự do mới bền hơn, hoặc cũng có thể tạo phức với các ion kim loại chuyển tiếp (xúc tác của các gốc tự do), đặc biệt là hợp chất tannin trong lá ổi, chúng có khả năng liên kết với protein của lá tạo thành cấu trúc bền vững.1 Giới thiệu về các hợp chất tannin Tanin hay tannoid là một hợp chất polyphenol có trong thực vật có khả năng tạo liên kết bền vững với các protein và các hợp chất hữu cơ cao phân tử khác như các amino acid và alkaloid. Đây là những hợp chất tự nhiên thuộc nhóm polyphenol phổ biến trong thực vật.
Tanin có khối lượng phân từ từ 500÷3.000 (các este acid gallic) và lên đến 20.000 (proanthocyanidine) (Smith et al. Hợp chất tannin có trong thực vật, thực phẩm và đồ uống (Makkar et al., 1998), hòa tan trong nước và các dung môi hữu cơ (Haslamet al,, 1996). Bởi vì thuộc nhóm phenol, tannin có thể phản ứng với formaldehyde (ngưng tụ trùng hợp) để tạo thành các sản phẩm nhiệt rắn có thể được sử dụng như một chất kết dính. (Meigy et al.
7 do an Dựa trên cấu trúc, tannin có thể được chia thành hai loại, cụ thể là tannin- terkondensasi (tannin ngưng tụ) và tannin- terhidrolisiskan (tannin thủy phân) (Hagerman et al. Bảng phân loại tannin theo cấu trúc (Hagerman et al.,m1992; Harbone, 1996) Base units gallic acid flavone Class/polymer Hydrolyzable Tannins Condensed Tannins Sources Plants Plants Tannin thủy phân (pyrogallic): - Là loại tannin sẽ bị thủy phân dưới tác dụng của acid nóng, kiềm nóng hay enzyme tannase cho một phần là đường và một phần là các acid phenolic. Nhóm tannin này dễ tan trong nước, thường cho phức màu xanh đen với dung dịch FeCl3. - Khi cất khô ở 180-2000C cho Pyrolallol là chủ yếu.
- Cho tủa bông bởi (CH3CHOO)2Pb 10%.