Chương 1 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Người Dao Quần Trắng ở xã Hùng Đức và thôn Văn Nham Nguồn gốc người Dao Quần Trắng, theo cuốn Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang (1973), “gia phả của một số gia đình và những tài liệu khác như: Bình hoàng khoán điệp, Quá hải đồ, các sách truyện, sách cúng ma v.v… đề cập đến nguồn gốc của người Dao từ Trung Quốc di cư vào Việt Nam. Nhiều gia phả ghi rõ trước khi sang Việt Nam, người Dao đã ở Quảng Đông, Quảng Tây, có gia phả ghi ở Vân Nam (Trung Quốc). Trong các sách truyện, sách cúng ma thường nói đến nhiều địa danh ở Trung Quốc.
Người chết đồng bào đưa hồn về Dương Châu đại điện hay về động Đào Nguyên. Nếu đúng vậy thì Dương Châu thuộc tỉnh Giang Tô, động Đào Nguyên thuộc tỉnh Hồ Nam của Trung Quốc. Như vậy, quê hương xa xưa của người Dao là ở Trung Quốc di cư sang Việt Nam rồi đến Tuyên Quang”. Người Dao Quần Trắng từ Thái Nguyên, Vĩnh Phú sang Sơn Dương rồi chuyển cư dần ngược theo sông Lô lên Hàm Yên được gần 200 năm.
Hiện nay xã Cấp Tiến (Sơn Dương) còn vài hộ người Dao Quần Trắng.188] Dân tộc Dao (trước đây gọi là Mán) ở tỉnh Tuyên Quang đứng hàng thứ 3 sau Kinh và Tày. Hiện nay, dân tộc Dao trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có 9 ngành (nhóm): Dao đại bản hay gọi là Mán Đỏ ( Dao Đỏ), Dao Tiểu Bản hay gọi là Dao Tiền, Mán Tiền, Dao Coóc Mùn hay gọi là Thanh Phán, Thanh Bản, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Coóc Ngáng, Dao Thanh Y, Dao Áo Dài và Dao Quần Trắng. Theo cuốn Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang (1973), mỗi ngành cư trú một vùng nhất định, có một vài ngành cư trú xen kẽ như Dao Đại Bản, Dao Tiểu Bản, Dao Coóc Mùn. Nói chung, người Dao ở xen kẽ với dân tộc khác, xen kẽ theo thôn xóm.
Dao Đại Bản, Dao Tiểu Bản chủ yếu ở Nà Hang, 8 Chiêm Hóa. Dao Coóc Mùn ở Yên Sơn, Sơn Dương. Dao Quần Chẹt ở Sơn Dương, Dao Lô Gang chủ yếu ở Yên Sơn, Dao Coóc Ngáng, Dao Thanh Y cũng nhiều ở Yên Sơn, Dao Áo Dài sống tập trung ở Hàm Yên và Chiêm Hóa và Dao Quần Trắng ở 20 xã chủ yếu là Hàm Yên và Yên Sơn.183] Dựa trên tư liệu của Ủy ban Nhân dân xã Hùng Đức, về vị trí địa lý xã nằm ở phía Nam huyện Hàm Yên. Trước cách mạng tháng Tám, xã Hùng Đức có tên gọi là xã Phong Nậm, sau cách mạng Tháng Tám đổi tên thành xã Hùng Đức.
Xã Hùng Đức có 23 thôn bản, cùng 5 dân tộc chung sống và thêm dải dác một vài hộ dân tộc khác: Dao Quần Trắng, Kinh, Tày, Cao Lan, Hoa.v… Thôn Văn Nham phía Bắc giáp thôn Thị, phía Nam giáp thôn Thanh Vân, phía Tây giáp thôn Tượn, phía Đông giáp thôn Khánh Hùng. Những thôn này phần lớn là người Kinh, Tày sinh sống. Có thôn Thanh Vân cũng là 100% người Dao Quần Trắng sinh sống. Thôn Văn Nham [xem phụ lục, ảnh số 3.2] với dân số: 68 hộ/315 khẩu, đồng bào ở đây 100% là người Dao Quần Trắng.
Với diện tích tự nhiên khoảng 1 km2. Trong đó, đất ruộng: 14,07 ha, còn lại là đất ở và hoa màu. Thôn Văn Nham có suối chảy qua, con suối bắt nguồn từ thôn 700, chảy qua thôn Khuôn Thắng, thôn Hùng Đức B, qua thôn Thanh Vân và chảy qua thôn Văn Nham. Con suối không có tên gọi.
Thôn gần núi Nì và núi Mạ, có câu nói quen thuộc: "Ông núi Nì, bà núi Mạ", nhưng đồng bào ở đây không biết sự tích và xuất xứ liên quan đến 2 ngọn núi. Địa hình thôn bằng phẳng, thích hợp với việc trồng lúa nước, trồng hoa màu. (Theo nguồn thông tin của ông Lý Văn Chuyền, người già ở thôn Văn Nham.) Các xã có người Dao Quần Trắng sinh sống khá nhiều nhưng tập trung đông nhất ở những xã như: Bạch Xa, Minh Khương, Phù Lưu, Thái Hòa, Tân Thành, Thành Long, Yên Lâm, Yên Phú, Yên Thuận - huyện Hàm Yêm - tỉnh Tuyên Quang. 9 Những thôn 100% là người Dao Quần Trắng sinh sống như thôn 700, Khuôn Thắng, Đèo Tế, Quân ển, Xuân Hùng, Cây Sấu, Xuân Đức, Cây Thông, Cây Quéo, Khánh Xuân, Đồng Băm, Thanh Vân, Làng Phan, Thắng Bìn và thôn Văn Nham - xã Hùng Đức - huyện Hàm Yêm - tỉnh Tuyên Quang Trước khi đến Hùng Đức, đồng bào ở xã Thái Hoà, huyện Hàm Yên.
Khi đến đây chỉ có 4 hộ là: Ông Lý Văn Phương, Ông Nguyễn Văn Nhất, Ông Đặng Văn Tòng, Ông Đặng Văn Mụng (theo gia phả của gia đình ông Lý Đình Quí có ghi chép lại thì họ cư trú ở đây đã được 4 đời: Ông: Lý Văn Phương - Bố: Lý Công Thành - Con: Lý Đình Quý - Cháu: Lý Thị Hồng…) Với các họ: Lý, Bàn, Đặng, Vi, Triệu, là những dòng họ lâu đời và chủ yếu của người Dao Quần Trắng ở thôn Văn Nham cũng như trong toàn xã. Hiện tại trong thôn có thêm 2 người con dâu dân tộc khác về làm dâu, còn lại toàn bộ là người Dao Quần Trắng sinh sống. Từ khi thực hiện vận động định canh định cư, bản làng người Dao tương đối ổn định. Số lượng dân cư trong làng ngày một đông, quy mô của làng ngày càng tăng.
Đặc điểm về kinh tế Dựa trên tư liệu của Ủy ban Nhân dân xã Hùng Đức [xem phụ lục, ảnh số 3.3] , thì hiện tại diện tích tự nhiên của toàn xã là 6.300 ha, dân số trên 8.400 người, với trên 70% là đồng bào dân tộc thiểu số. Trong điều kiện là một xã thuần nông, đất rộng, người đông, điểm xuất phát thấp, đời sống nhân dân còn khó khăn, cấp uỷ, chính quyền xã Hùng Đức đã lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Thu nhập bình quân đầu người của xã đạt 577 nghìn đồng/người/tháng. Hùng Đức là một xã nghèo, ngành nghề thủ công nghiệp chưa phát triển, tình trạng lao động thiếu việc làm lúc nông nhàn còn cao.
Hiện nay, hoạt động sinh kế của người Dao Quần Trắng ở thôn Văn Nham theo mô hình trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công, dịch vụ - thương mại và 10 khai thác các nguồn lợi từ tự nhiên, trong đó canh tác nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo (70%). Sống ở khu vực miền núi, người Dao Quần Trắng lấy việc trồng trọt lúa nước ở ruộng là chính. Từ rất sớm họ đã biết tận dụng những khu vực có mặt bằng tương đối bằng phẳng trong thung lũng và khắp mọi nơi gần nguồn nước để làm ruộng. Bộ dụng cụ canh tác lúa nước truyền thống của người Dao Quần Trắng gồm; cày chìa vôi, bừa răng tre, bừa răng gỗ, dao cắt lúa, cào cỏ, hái… Việc làm thủy lợi khá phát triển, như đập ngăn nước, mương phục vụ công việc trồng lúa nước cũng đủ đưa nước về đồng rộng của người dân.
Trước đây, lúa nếp là cây lương thực chính dùng trong bữa ăn hàng ngày, trong các nghi lễ, dùng làm rượu cần và cơm lam… Sau này, do dân số tăng, năng suất lúa nếp lại không cao nên các giống lúa tẻ có năng suất cao được thay thế dần và phổ biến hơn. Bên cạnh việc canh tác lúa nước, người Dao Quần Trắng còn làm nương trên các sườn đồi, sườn núi. Nương được dùng để trồng ngô, khoai, sắn, lạc, rau các loại. Những năm gần đây, ngoài cây lúa, cây keo và cây chè là hai loại cây công nghiệp được người dân rất chú trọng, diện tích trồng Keo không ngừng tăng lên, đem lại nguồn thu nhập đáng kể, nâng cao đời sống của người dân.
Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi cũng là nguồn thu nhập đáng kể. Ngoài các con vật nuôi truyền thống như trâu, bò, gà, lợn, vịt, ngan… Ngày nay, người Dao Quần Trắng đã biết chăn nuôi nhưng con vật mới như: dê, bò lai, thỏ, ong, chim … Đặc biệt, có một loại lợn rất nổi tiếng mà đồng bào gọi là lợn cheo hay lợn lửng, lợn Mán, dáng lợn không to, được thả rông, chỉ nặng từ 10 – 15 kg có giá bán cao hơn các loại lợn khác, giúp củng cố kinh tế hộ gia đình. 11 Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, nghề thủ công truyền thống tương đối phát triển, không những đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp mà được sử dụng để trao đổi, mua bán với những vùng khác. Trong các nghề thủ công truyền thống phải kể đến nghề dệt và nghề đan lát.
Đây là những sản phẩm thiết yếu trong đời sống gia đình. Trong đó, những sản phẩm dệt thường gắn với những trang phục sử dụng trong đời sống hàng ngày, các tập quán trong đám tang, đám cưới truyền thống. Tuy nhiên, do sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nghề dệt của người Dao Quần Trắng ở Hùng Đức nói chung và ở thôn Văn Nham nói riêng đang bị mai một nhanh chóng. Trước đây nghề đan lát là nghề phụ khá đặc trưng của người Dao Quần Trắng, cung cấp cho gia đình toàn bộ đồ dùng bếp và vận chuyển.
Ngoài ra, trong đám cưới, lễ hội và đời sống tâm linh, các sản phẩm đan lát cũng giữ một vị trí rất đặc biệt. Ví dụ, mâm đan bằng cây song, mây để bày món ăn tế lễ tổ tiên… trong ngày Tết, hộp đừng đồ cá nhân cho cô dâu về nhà chồng trong ngày cưới… Nhưng hiện nay, những gia đình sử dụng đồ đan lát không nhiều, phần lớn là đồ cũ không sử dụng mấy của ông bà để lại, chủ yếu thay bằng đồ nhựa, đồ nhôm mua ngoài chợ. Trong thôn không có của hàng tạp hóa nào, mà người dân trong thôn phải đi xa cách tầm 1km, khu trung tâm hơn, thì ở đó sẽ bán những vật dụng sinh hoạt cho người dân, từ đồ phục vụ ăn uống, đến may mặc, rồi phân bón… Trung tâm của xã là nằm trên trục đường chính, ở đây có Ủy ban xã, trường học cấp 1, cấp 2, trường mầm non, trạm y tế, chợ (chợ phiên Hùng Đức, họp vào sáng thứ 5 hàng tuần) và các hộ kinh doanh nhỏ. Trước kia, đồng bào ít trồng rau quanh nhà, hầu hết rau ăn đều do người phụ nữ đi hái ở rừng về.
Nhưng ngày nay, nhà nào cũng có vườn rau, ao cá, nuôi thả gà vịt, nuôi trâu bò, quanh nhà để phục vụ nhu cầu cuộc sống và làm kinh tế nông nghiệp. 12 Nhìn vào mặt bằng kinh tế của xã, hầu như là kinh tế nông nghiệp, có trồng đồi rừng, nhưng không nhiều nên thu nhập cũng không bao nhiêu.