phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 78 trang, 36 hình, 2 bảng và đƣợc bố cục gồm 4 chƣơng chính sau: Chƣơng 1. Vị trí địa lý, lịch sử tìm kiếm thăm dò và phƣơng pháp nghiên cứu. Cấu trúc địa chất, kiến tạo và địa tầng trầm tích. Địa tầng phân tập khu vực lô 123 và 124 bể Phú Khánh trên cơ sở phân tích biến dạng và cộng sinh tƣớng.
Đặc điểm tƣớng đá cổ địa lý qua các thời kỳ và triển vọng hệ thống sinh - chứa - chắn khu vực lô 123 và 124 bể Phú Khánh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, LỊCH SỬ TÌM KIẾM THĂM DÒ VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý Bể Phú Khánh nằm dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam, giới hạn bởi vĩ tuyến 140 - 110 Bắc và kinh tuyến 109020' - 1110 Đông hoặc cũng có thể phát triển hơn về phía Đông.
Về phƣơng diện địa chất, bể Phú Khánh giáp giới với bể Cửu Long ở phía Nam, bể Nam Côn Sơn ở phía Đông Nam, bể Sông Hồng ở phía Bắc, bể Hoàng Sa ở phía Đông Bắc, thềm Đà Nẵng, thềm Phan Rang ở phía Tây và về phía Đông, nơi chƣa đƣợc nghiên cứu, có thể tồn tại một bể khác nằm giữa bể Phú Khánh và phần sâu nhất của Biển Đông. Địa hình đáy biển trong vùng rất phức tạp với mực nƣớc biển sâu từ 0-3000m[7]. Khu vực nghiên cứu của luận văn thuộc vùng biển Phú Yên và Khánh Hòa, nằm trên khu vực lô 123 và 124 trong phần phía tây bắc của bể Phú Khánh. Vị trí khu vực nghiên cứu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lịch sử nghiên cứu Mặc dù bể Phú Khánh còn ít đƣợc nghiên cứu, song công tác nghiên cứu địa chất ở phần đất liền sát phía Tây bể Phú Khánh đƣợc các nhà địa chất Pháp nghiên cứu từ rất sớm trong công tác khảo sát lập bản đồ tỷ lệ 1:500. Điểm lộ dầu lần đầu tiên đƣợc phát hiện vào 1920-1923 tại Đầm Thị Nại (Qui Nhơn), phần đất liền kề với bể Phú Khánh.Năm 1944 các nhà địa chất Pháp đã khoan tìm kiếm ở đây nhƣng không còn tài liệu để lại. Từ 1944-1964, Saurin cũng đã nghiên cứu điểm lộ dầu ở Đầm Thị Nại và kết luận rằng nguồn dầu không phải từ Neogen mà có lẽ từ các lớp Sapropel giàu tảo (algae) ở vịnh Qui Nhơn cung cấp. Từ sau năm 1960 nhiều cuộc khảo sát của các nhà địa chất - địa vật lý Pháp, Mỹ, Đức, Nhật, Trung Quốc đã đƣợc tiến hành trong các chƣơng trình nghiên cứu biển Đông.
Từ sau năm 1970, các công ty dầu khí nƣớc ngoài đã tiến hành các nghiên cứu địa chất- địa vật lý với mục đích tìm kiếm dầu khí sơ bộ dƣới sự quản lý của chính quyền Sài Gòn cũ và từ 1979 đến nay các hoạt động nghiên cứu càng đƣợc tăng cƣờng dƣới sự quản lý của Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam và sau này là Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Cho đến nay, ở vùng biển miền Trung thuộc khu vực bể Phú Khánh đã có nhiều khảo sát địa vật lý nhƣ GSI (Mỹ,1974), Malƣgin (Liên Xô, 1984), GECO-PRAKLA (1993), NOPEC (1993) với khối lƣợng khảo sát khoảng 17.000 Km tuyến địa vật lý. Các nghiên cứu trên phần đất liền đƣợc nhiều nhà địa chất tiến hành từ 1977 đến nay. Lê Nhƣ Lai, Nguyễn Quang Hinh (1977); Phan Huy Quynh (1980); Sladen, Nguyễn Quang Bô (1991); Trần Tĩnh (1988- 1997); Lê Thành (1998) đã phân tích các mẫu ở vùng Đầm Thị Nại và cho thấy loại dầu ở vết lộ tƣơng tự với dầu trong carbonat Miocen ở giếng khoan 119-CH-1X và cho rằng dầu lộ có thể có nguồn gốc từ phần sâu của bề Phú Khánh dịch chuyển lên qua các đứt gãy trong vùng.
Năm 2000 Viện Dầu khí hợp tác với Viện Địa chất Nhật Bản (JGI) nghiên cứu các vết lộ từ Nông Sơn đến Kon Tum, Sông Ba, Đầm Thị Nại. Năm 2002-2003 Phạm Quang Trung cùng các cộng sự ở Viện Dầu khí tiếp tục nghiên cứu các mẫu lộ dầu ở Đầm Thị Nại. Các kết luận của các tác giả này còn rất trái ngƣợc nhau nên vấn đề nguồn gốc dầu lộ, chất lƣợng nguồn đá mẹ còn chƣa đƣợc giải quyết và cần phải nghiên cứu tiếp[7]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong những năm 2001-2004, Viện Dầu khí đã chủ trì đề tài cấp nhà nƣớc KC-09-06 nghiên cứu về địa động lực và tiềm năng dầu khí các vùng nƣớc sâu, xa bờ, trong đó có khu vực bể Phú Khánh.
Cũng trong thời gian này, dự án ENRECA do Viện Dầu khí hợp tác với Cục Địa chất Đan Mạch và Greenland (GEUS) đã tiến hành nghiên cứu tổng thể địa chất và tiềm năng dầu khí bể Phú Khánh, trong đó có tập trung nghiên cứu sâu về địa hoá và trầm tích của khu vực Đầm Thị Nại và trũng Sông Ba, phần đất liền kề với bể Phú Khánh. Điểm nổi bật cần lƣu ý là tất cả những điều trình bày ở đây đều dựa trên kết quả giải thích địa chất các tài liệu địa vật lý là chủ yếu vì trong khu vực này chƣa có tài liệu về công trình khoan. Các giếng khoan dùng để liên kết với tài liệu địa vật lý đều nằm ở các bể trầm tích kế cận (Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn), vừa xa, vừa có cấu trúc địa chất khác biệt, lại bị phân cắt bởi các hệ thống đứt gãy, các đới nâng phức tạp nên độ chính xác còn chứa nhiều hạn chế. Phƣơng pháp nghiên cứu 1.
Phương pháp luận 1.Những nguyên lý cơ bản về địa tầng phân tập Nguyên lý về vận chuyển, phân dị và lắng đọng trầm tích trong mối quan hệ với năng lƣợng môi trƣờng và chuyển động kiến tạo đƣợc thể hiện qua thành phần độ hạt, thành phần khoáng vật, thành phần hóa học của vật liệu trầm tích, độ mài tròn hạt vụn, độ chọn lọc của đá, bề dày và cấu tạo bên trong của thể trầm tích. Trong giáo trình Trầm tích học, 2003 các tác giả đã trình bày nguyên lý vận chuyển và phân dị vật liệu vụn cơ học và sét trong môi trƣờng dòng chảy một chiều của sông, môi trƣờng ven bờ và môi trƣờng yên tĩnh (hồ, biển sâu). Các dạng cấu tạo của đá trầm tích cũng đã đƣợc mô tả khá tỉ mỉ. Tuy nhiên để có thể nhận thức đƣợc một cách tƣờng minh và đơn giản từ những khái niệm phức tạp và mô tả rất tản mạn của nhiều tác giả khác nhau về địa tầng phân tập tác giả sẽ áp dụng những nguyên lý trầm tích luận kinh điển nói trên vào trong mối quan hệ nhân quả với sự thay đổi mực nƣớc biển và chuyển động kiến tạo.
Hai yếu tố đó đóng vai trò là nguyên nhân còn thành phần thạch học, tƣớng trầm tích và quy luật sắp xếp của các đơn vị trầm tích theo thời gian và không gian là kết quả. Các mối quan hệ nhân quả đó đƣợc thể hiện hết sức đa dạng trong các điều kiện biên khác nhau. Tuy nhiên có thể khái quát thành một số điều kiện cụ thể điển TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình và từ các điều kiện cơ bản đó cho phép suy luận ra toàn bộ bức tranh tiến hoá của bể trầm tích. Các điều kiện trầm tích tiêu biểu đại diện cho mối quan hệ nói trên là: a.
Năng lƣợng thuỷ động lực của môi trƣờng vận chuyển và lắng đọng trầm tích. Độ lớn bề dày trầm tích, sự biến thiên bề dày trầm tích. Cấu tạo bên trong và phƣơng thức sắp xếp của các đơn vị trầm tích theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng. Biến đổi thành phần độ hạt (phân dị cơ học) và thành phần thạch học của các thể trầm tích theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng.
Ranh giới liên tục hay gián đoạn giữa các thể trầm tích. Mức độ biến dạng thế nằm và cấu tạo của các thể trầm tích. Có thể coi các yếu tố trầm tích nói trên là những hàm số của các biến số nhƣ sự thay đổi mực nƣớc biển, năng lƣợng môi trƣờng, khối lƣợng trầm tích mang tới, sự chuyển động kiến tạo. Năng lượng thuỷ động lực của môi trường vận chuyển và lắng đọng trầm tích quyết định thành phần độ hạt của trầm tích vụn cơ học.
Môi trƣờng có năng lƣợng lớn thì độ hạt càng thô. Ví dụ, dòng chảy sông miền núi và sông miền trung du đặc trƣng là chảy rối vì vậy vật liệu lắng đọng tƣơng ứng là cuội tảng và sạn lẫn cát hạt thô. Dòng chảy sông đồng bằng đặc trƣng là chảy tầng và xa nguồn. Vật liệu lắng đọng chủ yếu là cát.
Dòng chảy ở môi trƣờng cửa sông châu thổ là dạng xen giữa dòng sông đổ ra biển và dòng triều từ biển chảy vào sông. Vì vậy, trầm tích cũng có sự xen kẽ giữa cát bột và sét. Ở bờ biển hiện đại cũng nhƣ các đới đƣờng bờ cổ nằm ở các độ sâu lớn 30m, 60m, 120m.thƣờng gặp các dải trầm tích hạt thô nhƣ cuội, sạn và cát. Điều đó chứng tỏ năng lƣợng sóng vỗ ven bờ đã quyết định kích thƣớc hạt thô của trầm tích bãi triều.
Tuy nhiên dù năng lƣợng mạnh hay yếu thì sự lắng đọng trầm tích luôn luôn tuân theo nguyên lý phân dị về độ hạt: càng gần nguồn xâm thực độ hạt càng thô, càng xa nguồn độ hạt càng giảm. Vì vậy, dù trong điều kiện mực nƣớc biển dâng cao hay hạ thấp cũng xảy ra lắng đọng trầm tích đồng thời và đều phân dị độ hạt giảm theo hƣớng nằm ngang từ nguồn cung cấp vật liệu ra hƣớng trung tâm của bể trầm tích. Nhƣ vậy sẽ không bao giờ có thành phần TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ hạt bằng nhau và bề dày trầm tích giống nhau đối với cùng một lớp hay một thể trầm tích lắng đọng ở một địa hình dốc ven bờ. Trầm tích ở chân dốc nghèo hơn và mịn hơn nên gá đáy (down lap) một cách thoai thoải và mềm mại theo phƣơng thức „tiếp tuyến‟ với bề mặt đáy chứ không tạo thành một đƣờng thẳng cắt bề mặt đáy nhƣ một số tác giả quan niệm và gọi là "chống đáy" (hình 1.
Các nhịp độ hạt phân dị theo chiều ngang và chiều thẳng đứng (Theo Trần Nghi, 2010) b. Sự biến thiên bề dày trầm tích: Bề dày trầm tích là hàm số của chuyển động kiến tạo, khối lƣợng vật liệu cung cấp, thành phần độ hạt trầm tích và độ sâu đáy biển. Khi phát hiện thấy bề dày trầm tích lớn là khẳng định do sụt lún kiến tạo mạnh. Ngƣợc lại bề dày trầm tích mỏng là dấu hiệu của quá trình chuyển động nâng cao hoặc thiếu hụt vật liệu trầm tích mang tới.