CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung về vật liệu TiO2 Titan đioxit (TiO2) ở dạng khối có kích thước hạt lớn được sản xuất thương mại từ những năm đầu thế kỷ XX cho nhiều ứng dụng rộng rãi như: dùng làm chất màu trong sơn, chất độn trong cao su, nhựa, giấy, mỹ phẩm và gốm chịu nhiệt, … Đến năm 1972, khi Fujishima và Honda khám phá ra hiện tượng quang phân giải nước trên bề mặt điện cực TiO2 dưới bức xạ tử ngoại, TiO2 được biết đến như chất bán dẫn có nhiều triển vọng trong các lĩnh vực quang xúc tác xử lí môi trường, lĩnh vực quang điện trong chế tạo pin năng lượng mặt trời, vật liệu tự làm sạch trong các công trình xây dựng, vật liệu diệt khuẩn ở các bệnh viện, …[4] Liên kết TiO2 là liên kết ion, khi tạo thành tinh thể, mỗi nguyên tử Ti nhường 4 điện tử trở thành cation Ti4+ (có cấu hình electron 3s23p6) và mỗi nguyên tử O nhận 2 điện tử trở thành anion O2- (có cấu hình electron 2s22p6). Trong tinh thể cation Ti4+ không có điện tử nào ở phân lớp 3d và 4s tạo thành vùng không chứa điện tử và anion O2- có đủ 6 điện tử ở phân lớp 2p tạo thành vùng 2p đầy điện tử. Khoảng cách giữa hai vùng chính là năng lượng vùng cấm.
Đặc tính cấu trúc của TiO2 Các dạng thù hình của TiO2 là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt tính xúc tác quang của chúng. Trong tự nhiên, TiO2 tồn tại bốn dạng thù hình chính bao gồm: anatase, rutile, brookite và TiO2 (B) [5]. Thông số cấu trúc các dạng thù hình được trình bày trong bảng 1. Các dạng thù hình của TiO2 [6] (a): anatase,(b): rutile, (c): brookite và (d) TiO2 (B) Học viên: Huỳnh Anh Tuấn - 1770457 Trang 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ Cả bốn dạng này đều được tạo từ các đa diện phối trí TiO6 có cấu trúc theo kiểu bát diện nối với nhau qua cạnh hoặc qua đỉnh oxy chung nhưng có sự sắp xếp khác nhau trong không gian hình 1.
Trong tinh thể anatase, tiếp xúc 4 cạnh với nhau sắp xếp theo kiểu zigzag và trục c của tinh thể kéo dài ra; trong tinh thể rutile, khối bát diện sắp xếp theo đỉnh và hai khối bát diện đứng cạnh nhau chia sẻ hai cạnh chung và kết nối tạo thành chuỗi, trong khi đó thù hình brookite tất cả các cạnh và đỉnh đều liên kết với nhau. Thù hình TiO2 (B) có nguồn gốc từ các hợp chất muối titan, có cấu trúc đơn tà gồm các khối bát diện liên kết tất cả các cạnh và đỉnh lại với nhau. Trong tinh thể anatase, các khối bát diện bị biến dạng mạnh hơn, khoảng cách Ti-Ti ngắn hơn và Ti- O dài hơn so với rutile. Sự khác nhau giữa các mạng lưới tinh thể dẫn đến sự khác nhau về mật độ khối và cấu trúc điện tử trong sự hình thành các pha của TiO2.
Thông số cấu trúc các dạng thù hình của TiO2 Thù hình Anatase Rutile Brookite TiO2(B) Hệ cấu trúc Tetragonal Tetragonal Orthorhombic Monoclinic Nhóm không gian P42/mnm I41/amd Pbca C2/m Thông số mạng (Å) a=3,79 a=4,59 a=9,18 a=12,16 c=9,51 c=2,96 b=5,45 b=3,74 c=5,15 c=6,51 β=107,3o Liên kết Ti-O (Å) 1,95 1,94 2,87~2,04 - K/L riêng (g/cm3) 3,78 4,23 - - Band gap 3,20 3,00 - - Học viên: Huỳnh Anh Tuấn - 1770457 Trang 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ 1. Cơ chế quang xúc tác của TiO2 Hình 1. Quá trình quang xúc tác trên TiO2 [7] Khi ánh sáng chiếu vào bề mặt TiO2, các điện tử ở vùng hóa trị nhận được năng lượng photon (h), bị kích thích và di chuyển lên vùng dẫn (hình 1.2) tạo ra các cặp electron nằm trên vùng dẫn ( e-CB ) và lỗ trống nằm trên vùng hóa trị ( h +VB ) [8]. Đây chính là phản ứng quang hóa của TiO2 (1.
TiO2 + h e-CB + h +VB (1.1) Sau đó, các e-CB và h +VB tiếp tục thực hiện các phản ứng oxi hóa khử (1.4–9) để tạo thành các ROS (tác nhân chứa oxi có hoạt tính cao) như OH, O2–, H2O2 [9].3) h +VB + OH→ OH (1.6) e-CB + H2O2 → OH + OH Do e-CB và h +VB chỉ tồn tại trên bề mặt TiO2 nên các phản ứng (1.7) cũng chỉ có thể xảy ra ngay trên bề mặt TiO2 và tạo ra ROS ở đây. Trong khi đó, sản phẩm của các phản ứng này (H2O2 , H+ và O2) lại có thể có thể khuếch tán trong nước và tiếp tục thực hiện các phản ứng (1.10) để tạo ra ROS ở xa bề TiO2 hơn [9].8) Học viên: Huỳnh Anh Tuấn - 1770457 Trang 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ O2+ H2O + H+ → H2O2 + O2 (1.10) Cuối cùng, h +VB và các ROS oxi hóa các chất hữu cơ và phân hủy chúng thành H2O, CO2 hay các chất hữu cơ dễ phân hủy hơn [10]. Tuy nhiên, phản ứng tái kết hợp của các cặp e-CB và h +VB (1.11) làm chúng không thể tồn tại lâu dài. Lượng e-CB và h +VB giảm đáng kể do phản ứng tái kết hợp dẫn đến lượng ROS được tạo ra cũng giảm [11] và làm giảm hoạt tính quang xúc tác của TiO2.
e-CB + h +VB Nhiệt + h (1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính quang hóa TiO2 Nhiều nghiên cứu cho thấy hoạt tính quang xúc tác của TiO2 phụ thuộc rất nhiều vào diện tích bề mặt riêng, mức độ tinh thể hóa và kích thước tinh thể. Diện tích bề mặt riêng lớn cung cấp nhiều vị trí hoạt động và tăng cường khả năng hấp phụ của TiO2. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, vật liệu có diện tích bề mặt nhỏ hơn nhưng mức độ tinh thể hóa cao hơn lại cho hoạt tính quang xúc tác tốt hơn.
Khi so sánh giữa các vật liệu có cùng kích thước tinh thể, mức độ tinh thể hóa của pha anatase cao hơn cũng có thể dẫn đến sự tăng hoạt tính quang xúc tác của vật liệu [12]. Việc xử lý nhiệt (nung) trong quá trình điều chế TiO2 làm tăng mức độ tinh thể hóa của TiO2 nhưng luôn kèm theo sự tăng kích thước tinh thể và giảm diện tích bề mặt riêng. Hơn nữa, kích thước tinh thể càng nhỏ thì bandgap càng lớn, giúp giảm tốc độ tái kết hợp của các cặp e-CB và h +VB [13]. Đó là lý do tại sao trong một số trường hợp vật liệu có độ tinh thể hóa rất cao nhưng có kích thước quá lớn nên chỉ cho hoạt tính kém.
Điều này cho thấy tầm quan trọng của kích thước tinh thể đến hoạt tính của quang xúc tác. Trong các dạng thù hình của TiO2, anatase thể hiện hoạt tính xúc tác quang cao hơn so với các dạng khác sự khác nhau này có thể do tốc độ tái kết hợp giữa electron và lỗ trống anatase chậm hơn so với các pha khác. Trong quá trình chế tạo anatase hình thành ở nhiệt độ thấp nên quá trình hydrat hóa bề mặt diễn ra tốt hơn, tạo các nhóm hydroxyl trên bề mặt thuận lợi cho quá trình hấp thụ O2 để thực hiện quá trình khử tạo thành gốc O2-. Học viên: Huỳnh Anh Tuấn - 1770457 Trang 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ Giá trị pH của dung dịch là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng quang hóa và khả năng hấp phụ các chất ô nhiễm lên bề mặt chất xúc tác.
Vì điểm đẳng điện của TiO2 (Pzc) nằm trong pH ~ 6.25 [14], nên tại pH lớn hơn 6,25 bề mặt của nó trở nên tích điện âm và ngược lại khi pH nhỏ hơn 6,25 thì bề mặt của nó tích điện dương. Tốc độ của phản ứng xúc tác quang có thể thay đổi một cách đáng kể do sự hấp phụ của các ion trên bề mặt xúc tác tại những pH khác nhau [15-17]. Các nghiên cứu về vật liệu TiO2 và TiO2-SiO2 1. Vật liệu TiO2 Năm 1972, Fujishima và Honda đã phát hiện ra sự tách các điện tích do quang xúc tác của nước trên TiO2 [4].
Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong lĩnh vực quang xúc tác. Kể từ đó, những nỗ lực nghiên cứu trong việc tìm hiểu các quá trình cơ bản và trong việc nâng cao hiệu quả quang xúc tác của TiO2 đã đến từ nghiên cứu sâu rộng thực hiện bởi các nhà hóa học, vật lý, hóa học và kỹ sư. Trong những năm gần đây, các ứng dụng để làm sạch môi trường đã được quan tâm và trở thành đề tài được quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực quang xúc tác. Lấy cảm hứng từ những ứng dụng tiềm năng của chất xúc tác quang TiO2 dựa trên khả năng phân hủy các hợp chất hữu cơ trong không khí bị ô nhiễm và nước thải [18].
và cộng sự nghiên cứu sự phân hủy metyl xanh trong dung dịch TiO2 huyền phù dưới điều kiện chiếu xạ UV [19]. Năm 2003, Mohamed Ksibi và cộng sự nghiên cứu sư phân hủy lignin trong cồn đen bằng quang hóa UV/TiO2. Kết quả cho thấy lignin bị phân hủy thành vanillin và vinillic acid trong điều kiện xúc tác quang TiO2/UV, TiO2 Degussa P-25 (tỉ lệ anasate:rutile=3:1) được sử dụng trong quá trình nghiên cứu [20]. và cộng sự nghiên cứu so sánh hiệu quả xử lý màu nhuộm hoạt tính hữu cơ bằng ba quá trình UV/TiO2, UV/ZnO và photo-Fenton, TiO2 anatase ở dạng bột nano được chọn làm nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình quang hóa UV/TiO2 cho hiệu quả xử lý tốt nhất với 74,2% tổng hàm lượng carbon được loại bỏ và toàn bộ màu hoạt tính Red-45 được xử lý sau 1 giờ. Một loạt thí nghiệm được tiến hành nhằm khảo sát pH và hàm lượng TiO2 tối ưu cho quá trình xử lý màu hoạt tính Red-45 bằng hệ quang xúc tác TiO2. Cố định pH của dung dịch ở Học viên: Huỳnh Anh Tuấn - 1770457 Trang 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ pH=5, thay đổi hàm lượng xúc tác TiO2 từ 0-2g/L thì thấy hiệu suất xử lý tăng khi tăng hàm lượng xúc tác TiO2 đến 0,5g/L và sau đó hiệu suất xử lý giảm dần. Vật liệu TiO2-SiO2 Vật liệu nanocomposite TiO2-SiO2 là một dạng vật liệu mới được các nhà nghiên cứu quan tâm trong những năm gần đây và được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: bảo vệ thép không gỉ tránh bị oxi hóa và tấn công của hóa chất, lớp phủ chống phản xạ của kính quang học, các loại kính có chỉ số khúc xạ cao và hệ số giãn nhiệt siêu thấp và đặc biệt làm chất xúc tác.
Vật liệu TiO2-SiO2 được ứng dụng nhiều làm chất xúc tác quang do sự tương tác giữa TiO2 và SiO2 tạo cho vật liệu nanocoposite có những đặc tính tính ưu việt như: chất bán dẫn loại n của TiO2 và tính bền nhiệt, cơ học của SiO2; ảnh hưởng của chất mang; hiệu ứng lượng tử và chất xúc tác acid [21].