CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ GOSSYPOL 1. Sự tồn tại của gossypol trong hạt bông Gossypol tồn tại trong tuyến màu của hạt bông, chiếm khoảng 20-40% tổng khối lượng của tuyến mầu [1]. Số lượng của gossypol trong hạt bông của các loài bông khác nhau cũng khác nhau, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, giống bông, điều kiện khí hậu, đất đai của từng vùng, lượng nước và phân bón sử dụng và điều kiện thời điểm thu hoạch.
Cụ thể gossypol trong loài G. Hirsutum chứa 1,24- 1,44%; loài G. aridum (Rose & Standl. Theo nghiên cứu của Gallup về gossypol trong các giai đoạn phát triển của cây bông thì gossypol cho giá trị lớn nhất khi hạt bông chín và bắt đầu nở [5].
Ngoài hạt bông, gossypol còn được tìm thấy bên trong một số bộ phận khác của cây bông như vỏ rễ của cây, lá, vỏ hạt và hoa [1]. Có nhiều nghiên cứu trên thế giới về tỷ lệ hai đồng phân quang học (+)- và (-)- gossypol trong hạt của các loài bông khác nhau. Vào năm 1988, hai nhà khoa học Zhou và Lin đã kiểm tra sự có mặt có gossypol trong hạt bông, kết quả cho thấy 16 cây thuộc loài G. Barbadense ở Trung Quốc có chứa từ 51,4 đến 65,3 % đồng phân quang học (-)-gossypol trong tổng số (±)-Gossypol và tỷ lệ % của (-)-Gossypol nhiều hơn so với (+)-gossypol là 2,8 – 30,6 %.
Trong khi đó 10 cây của loài G. Hirsutum cho thấy tỉ lệ đồng phân quang học của (+)-gossypol lại nhiều hơn so với đồng phân (-)-gossypol từ 4,0 – 24,9 % và một cây của loài G. Arboreum cũng cho kết quả tỷ lệ đồng phân (+)-gossypol nhiều hơn đồng phân (-)-gossypol là 34% [44]. Cass và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu về tỷ lệ đồng phân quang học học (+)- và (-)-gossypol trong hạt của 6 cây thuộc loài G.
Barbadense ở Brazin có chứa 52- 65% (-)-gossypol trong tổng số (±)-Gossypol, và 4 loại cây thuộc loài G. Hisumtum latiforlium cũng cho kết quả tương tự với nhóm nghiên cứu Zhou và Lin [6]. Nghiên cứu trên một số lượng lớn các giống G. Barbadense thương mại cho thấy rằng tỷ lệ (+)- và (-)-gossypol trong một giống bông nhất định gần như không thay đổi dưới tác động của môi trường [38].
SHHV: CB150020 2 Nguyễn Thị Thanh Luận văn thạc sỹ 1. ĐẶC TÍNH CỦA GOSSYPOL 1. Tính chất lý hóa Gossypol được tìm thấy trong các tuyến màu nhỏ của hạt bông. Nó là hợp chất polyphenol, màu vàng, có khả năng chống lại các vi sinh vật và nấm mốc, được phát hiện vào cuối thế kỷ 19 bởi Longmore [23] và Marchelewski [20].
Đến năm 1958, cấu trúc của gossypol mới được suy luận dựa vào các tính chất vật lý và hóa học của nó. Cấu trúc của nó được chứng minh bởi Eward, người đã tổng hợp ra phân tử và chứng minh nó có cấu trúc hóa học là 1,1’,6,6',7,7'-hexahydroxy-5,5'-diisopropyl-3,3'- dimethyl-2 ,2 '-binaphthalen-8 ,8 '-dicarboxaldehyd [14]. − CTCT: − CTPT: C30H30O8 − Khối lượng phân tử: 518,5544 g/mol. − Tinh thể màu vàng.
Marchlewski, người đầu tiên phân lập được tinh thể gossypol-acetic acid, cho biết gossypol tan trong môi trường kiềm, dễ dàng bị oxi hóa bởi không khí trong dung dịch kiềm, cho màu đỏ sáng với thuốc thử là axit sulfuric đặc và màu xanh rêu với thuốc thử ferric chloride [20]. Gossypol không tan trong nước, tan trong nhiều dung môi hữu cơ như methanol, ethanol, isopropanol, dioxane, diethyl ether, acetone, ethyl acetate, chloroform, carbon tetrachloride, phenol, pyridine, naphthalene nóng chảy và dầu thực vật nóng. Nó ít tan trong glycerine, cyclohexane, benzene, gasoline và ete dầu. Điểm chảy của tinh thể gossypol tinh sạch phụ thuộc vào dung môi dùng để kết tinh.
Gossypol kết tinh trong diethyl ether có điểm chảy là 184 oC, trong chloroform có điểm chảy là 199ºC, trong ligroin có điểm chảy là 214 oC [19]. Cấu tạo của gossypol gồm 2 khung naphthalen đối xứng, mỗi khung chứa 3 nhóm -OH và 1 nhóm CHO. Hai nhóm -OH ở vị trí 1 - 1 ’ hoạt động hơn 4 nhóm -OH còn lại, do chúng ở gần 2 nhóm aldehyd ở vị trí 8 - 8 ’. Hai nhóm aldehyd này cũng SHHV: CB150020 3 Nguyễn Thị Thanh Luận văn thạc sỹ góp phần lớn vào hóa tính đặc biệt của phân tử gossypol, nó đóng vai trò trong việc tạo nên các dạng hỗ biến của gossypol, và được cho rằng là nhóm chức đóng vai trò quan trọng tạo nên độc tính của gossypol.
Nhờ đó gossypol dễ dàng chuyển hóa thành 3 dạng đồng phân tautomeric khác nhau là: aldehyd, ketone, và hemiacetal trong các dung môi khác nhau. Trong các hệ dung môi thông dụng, gossypol tồn tại chủ yếu ở dạng ketone, nhưng trong các loại dung môi trơ như chloroform, acetone, dioxane hay trong điều kiện acid, gossypol tồn tại chủ yếu ở dạng aldehyde. Trong dung môi phân cực như dimethyl sulfoxide (DMSO) trong môi trường kiềm thì gossypol tồn tại ở trạng thái cân bằng giữa các dạng hemiacetal, dạng aldehyde và dạng ketone. Nhóm aldehyd tự do này cũng dễ dàng phản ứng với các amin tạo thành dẫn xuất bazơ Schiff, do đó trong tự nhiên gossypol chủ yếu tồn tại dưới dạng bazơ Schiff với các nhóm amino của protein [1, 19].
Sơ đồ 1: Các dạng tautomeric của gossypol Gossypol tồn tại ở hai dạng đồng phân quang học là R hay (-)-gossypol và S hay (+)-gossypol do sự giới hạn khả năng quay của cầu liên kết 2, 2´-binaphthyl [19]. Sơ đồ 2: Đồng phân quang học của gossypol SHHV: CB150020 4 Nguyễn Thị Thanh Luận văn thạc sỹ 1. Hoạt tính sinh học 1. Hoạt tính chống ung thư Tác dụng chống ung thư của gossypol được phát hiện đã tạo ra một sự thay đổi cơ bản trong nhận thức của các nhà khoa học.
Gossypol không còn bị coi là một hợp chất bất lợi có trong hạt bông, mà là một hợp chất tự nhiên có các tính chất dược lý và hóa học có giá trị khai thác. Có rất nhiều báo cáo về tác dụng chống ung thư in vitro của gossypol trên nhiều dòng tế bào ung thư người khác nhau như ung thư buồng trứng, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tuyến thượng thận, ung thư cổ tử cung, ung thư tế bào phổi nhỏ. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng đồng phân (-) có hiệu lực mạnh hơn trên hầu hết các hệ thống sinh học khi so sánh với đồng phân (+) và hỗn hợp racemic. Nguyên nhân là đồng phân (-) ở nồng độ thấp ảnh hưởng đến quá trình biệt hóa tế bào, điều này không thấy ở (+)-gossypol và nồng độ cao của (-)-gossypol [16].
Nghiên cứu cho thấy (-)-gossypol gây độc tế bào mạnh hơn 2-14 lần so với (+)-gossypol trên tất cả các dòng tế bào ung thư [7]. Tác dụng gây độc tế bào của gossypol cũng đã được quan sát trên các tế bào kháng lại adriamycin, vinblastin và cisplatin [17]. Các nghiên cứu so sánh cho thấy (-)- gossypol có hoạt tính chống ung thư mạnh hơn cisplatin, melphalan và dacarbazin trên 2 dòng ung thư sắc tố, cispaltin và daunorubicin trên dòng ung thư phổi, và mạnh hơn hydroxyure và busphalan trên một số dòng ung thư máu [25]. Một số dẫn chất của gossypol cũng được tổng hợp và so sánh với gossypol về tác dụng gây độc tế bào.
Dẫn xuất bazơ Schiff của (-)-gossypol với L-phenylalanin methyl ester được chứng minh là có hoạt tính mạnh hơn (-)-gossypol trên các dòng tế bào ung thư sắc tố ác tính (SK- MEL19), ung thư cổ tử cung (Sihas), ung thư tế bào phổi nhỏ (H69) và ung thư bạch cầu nguyên bào tủy (K562) [36]. Nhiều thử nghiệm lâm sàng về tác dụng gây độc tế bào của gossypol đã được thực hiện. Nghiên cứu lâm sàng pha 1 trên 34 bệnh nhân ung thư đã kháng thuốc ở nhiều type khác nhau, dùng theo đường uống gossypol racemic 30-180 mg/tuần; kết quả cho thấy có hiệu quả lâm sàng tối thiểu nhưng không có bằng chứng của ức chế tủy xương [21]. Trong thử nghiệm với 21 bệnh nhân ung SHHV: CB150020 5 Nguyễn Thị Thanh Luận văn thạc sỹ thư tuyến thượng thận di căn, cho uống gossypol với liều 30- 70 mg/ngày, cho thấy đã có dung nạp tốt với chỉ một tác dụng phụ nguy hiểm nhất là tắc ruột [5].
Nghiên cứu trên bệnh nhân u thần kinh đệm ác tính tái phát, cho uống gossypol 20 mg/ngày, kết quả là đã có sự dung nạp, tỉ lệ đáp ứng tuy thấp nhưng có thể đo được [30]. Nghiên cứu trên 20 bệnh nhân nữ ung thư vú di căn đã kháng, các thử nghiệm lâm sàng pha I/ II bao gồm cho uống gossypol 30-50 mg/ngày, kết quả cho thấy sự đáp ứng không đáng kể ở một bệnh nhân, có độ ổn định bệnh với sự giảm trên 50% các chất chỉ điểm ung thư ở 2 bệnh nhân [4]. Với sự phát triển của sinh học phân tử, các nhà khoa học gần đây đã phát hiện ra tác dụng gây độc tế bào của gossypol có liên quan đến các protein Bcl-2. Đây là một họ protein có vai trò kiểm soát sự chết theo chương trình của tế bào (apoptosis) theo con đường ty thể.
Sự biểu hiện quá mức của các protein này, chủ yếu là Bcl-2 và Bc1- Xl, ngăn cản apoptosis thông qua con đường ty thể, thường được thấy trong các dòng tế bào ung thư đã kháng thuốc [43]. Gossypol có hoạt động như một chất bắt chước domain BH3, liên kết với các domain BH3 của các protein anti-apoptosis, kích thích quá trình apoptosis [11]. Tóm lại, gossypol hứa hẹn như là một trong những hơp chất đi đầu trong nhóm các thuốc chống ung thư mới, đặc biệt để chống lại tính kháng với liệu pháp hóa học và xạ trị của các tế bào ung thư. Hoạt tính tránh thai cho nam giới (ANTIFERTILITY) Vào năm 1970, ngay sau khi các dược sỹ công bố tác dụng tránh thai nam giới, chính phủ Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu trên 8000 binh lính với liều 20mg/ngày.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng tránh thai tốt mà không làm ảnh hưởng đến ham muốn tình dục, huyết áp, cân nặng hay các thông số lý hóa khác của binh lính. Tuy nhiên có hai tác dụng phụ được báo cáo là có khoảng 10% binh lính bị hạ kali máu nhưng không làm giảm hiệu lực tránh thai [10, 34, 36]. SHHV: CB150020 6 Nguyễn Thị Thanh Luận văn thạc sỹ Vào năm 1981, Natwar R. Kalla và công sự đã đưa ra kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của gossypol lên tinh trùng.
Nam giới sau khi uống 10 - 100µg gossypol acid acetic ở 37oC, hoạt lực của tinh trùng giảm sau 210 phút từ 83% xuống 4%. Sự giảm nhu động của tinh trùng được giải thích là do giảm hoạt động của ATPase trong tinh trùng sau khi sử dụng gossypol [28]. Một nghiên cứu khác về tác dụng kìm hãm sự sản sinh ra tinh trùng của Shiva K. Saksena trên chuột đồng đực.