Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu tổng hợp kim loại Mg từ nguyên liệu dolomit Thanh Hóa

Luận án tiến sĩ nghiên cứu quy trình tổng hợp kim loại Mg từ nguyên liệu dolomit Thanh Hóa, ứng dụng trong công nghiệp và khoa học.

Trường đại học

Đại học Bách Khoa Hà Nội

Chuyên ngành

Kỹ thuật vật liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

178
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục tiêu nghiên cứu

Luận án 'Nghiên cứu tổng hợp Mg kim loại từ dolomit Thanh Hóa' tập trung vào việc sản xuất magie từ nguồn nguyên liệu dolomit tại Thanh Hóa, Việt Nam. Mg kim loại có vai trò quan trọng trong các ngành công nghiệp hiện đại, đặc biệt là vật liệu kết cấu và y sinh. Mục tiêu chính của nghiên cứu là tối ưu hóa quy trình Pidgeon, một phương pháp sản xuất Mg phổ biến, nhằm giảm tiêu thụ năng lượng và tăng hiệu suất sản xuất. Luận án cũng đề xuất các cải tiến để khắc phục nhược điểm của quy trình truyền thống.

1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là dolomit Thanh Hóa, một nguồn nguyên liệu giàu tiềm năng tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu bao gồm tính toán nhiệt động họcđộng học của phản ứng hoàn nguyên, xác định các thông số công nghệ tối ưu, và đề xuất quy trình cải tiến dựa trên quy trình Pidgeon. Nghiên cứu cũng tập trung vào việc sử dụng các công cụ phân tích hiện đại như quang phổ nhiễu xạ tia Xhiển vi điện tử quét để đánh giá kết quả.

1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án có ý nghĩa khoa học lớn khi làm sáng tỏ cơ chế phản ứng hoàn nguyên dolomit bằng fero silic. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu góp phần tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên dolomit dồi dào của Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp cải tiến quy trình sản xuất Mg, giảm chi phí năng lượng và tăng tính liên tục của quá trình.

II. Phương pháp nghiên cứu và công cụ phân tích

Luận án sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý thuyết và thực nghiệm. Phần lý thuyết bao gồm phân tích tổng hợp các nghiên cứu trước đây và sử dụng phần mềm FactSage để tính toán nhiệt động học. Phần thực nghiệm được thực hiện với các thiết bị hiện đại như quang phổ nhiễu xạ tia X (XRD), hiển vi điện tử quét (SEM), và phân tích quang phổ tán xạ năng lượng (EDS) để nghiên cứu cơ chế phản ứng và đánh giá ảnh hưởng của các thông số công nghệ.

2.1. Tính toán nhiệt động học

Phần này tập trung vào tính toán năng lượng tự do Gibbs (ΔG)hệ số cân bằng (K) của các phản ứng hoàn nguyên. Kết quả tính toán giúp xác định vùng nhiệt độ tối ưu cho quá trình hoàn nguyên dolomit bằng fero silic. Các phản ứng được mô phỏng bằng phần mềm FactSage, đảm bảo độ chính xác và tin cậy cao.

2.2. Phân tích động học phản ứng

Nghiên cứu động học phản ứng giúp hiểu rõ cơ chế và tốc độ của quá trình hoàn nguyên. Các mô hình động học như JanderSerin-Ellickson được sử dụng để mô tả quá trình khuếch tán và phản ứng rắn-khí. Kết quả phân tích cho thấy nhiệt độtỷ lệ fero silic là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu suất hoàn nguyên.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình hoàn nguyên dolomit Thanh Hóa bằng fero silic đạt hiệu suất cao nhất ở nhiệt độ khoảng 1200°C và tỷ lệ fero silic 20%. Các yếu tố như lực ép phối liệu, tỷ lệ CaO/MgO, và chất trợ dung CaF2 cũng được đánh giá để tối ưu hóa quy trình. Nghiên cứu cũng đề xuất một quy trình kết hợp mới, giúp giảm thời gian và năng lượng tiêu thụ so với quy trình Pidgeon truyền thống.

3.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ và tỷ lệ fero silic

Kết quả thực nghiệm cho thấy nhiệt độtỷ lệ fero silic có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất hoàn nguyên. Ở nhiệt độ 1200°C và tỷ lệ fero silic 20%, hiệu suất hoàn nguyên đạt mức cao nhất. Đồ thị ΔG-TP-T được sử dụng để minh họa mối quan hệ giữa các thông số này.

3.2. Đề xuất quy trình kết hợp

Quy trình kết hợp được đề xuất nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng và tăng tính liên tục của quá trình sản xuất. Kết quả cho thấy quy trình này giảm thời gian hoàn nguyên và tiêu thụ năng lượng thấp hơn so với quy trình Pidgeon truyền thống, đồng thời duy trì độ tinh khiết cao của Mg kim loại.

IV. Kết luận và kiến nghị

Luận án đã thành công trong việc nghiên cứu và tối ưu hóa quy trình sản xuất Mg kim loại từ dolomit Thanh Hóa. Các kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng lớn trong việc ứng dụng quy trình Pidgeon tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các cải tiến để nâng cao hiệu quả sản xuất. Các kiến nghị bao gồm việc tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa các thông số công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất.

4.1. Đóng góp của luận án

Luận án đã làm sáng tỏ cơ chế phản ứng hoàn nguyên dolomit bằng fero silic, đồng thời đề xuất các giải pháp cải tiến quy trình Pidgeon. Nghiên cứu góp phần tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên dolomit của Việt Nam và giảm chi phí sản xuất Mg kim loại.

4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm tối ưu hóa các thông số công nghệ, nghiên cứu ứng dụng các phương pháp sản xuất mới như laservi sóng, và mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Thực nghiệm Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị Danh mục các công trình công bố liên quan đến luận án. Tài liệu tham khảo 3 1. Tổng quan về Mg và nguồn nguyên liệu sản xuất 1. Mg và ứng dụng của Mg Magie (Mg) là kim loại nhẹ có khối lượng riêng 1,73 g/cm3, nhiệt độ nóng chảy 650 oC, độ bền đạt 158 kN.m/kg, cao hơn nhôm 17 % [1].

Cấu trúc tinh thể của Mg dạng lục giác xếp chặt (hcp), do đó giống như hầu hết các kim loại có cấu trúc này, ở trạng thái kim loại nguyên chất Mg không đủ độ bền cho hầu hết các ứng dụng kết cấu nhưng khi được bổ sung các nguyên tố hợp kim, cơ tính của hợp kim Mg được cải thiện rõ rệt [2]. Nguyên tố hợp kim được sử dụng rộng rãi nhất với Mg là nhôm, do đó hầu hết các hợp kim Mg thương mại đều dựa trên hệ thống Mg-Al, với sự bổ sung nhỏ các nguyên tố hợp kim khác như kẽm, mangan, silic và các nguyên tố đất hiếm để đáp ứng các yêu cầu ứng dụng nhất định. Nhôm được hợp kim với magie hình thành các pha liên kim như pha -Mg17Al12 dạng lưới bán liên tục trong hợp kim AZ91 (9 % nhôm, 1 % kẽm) để tăng độ bền, khả năng đúc và chống ăn mòn (Hình 1. Trong hệ hợp kim AZ91 thì hợp kim AZ91D có độ tinh khiết cùng khả năng chống ăn mòn cao do yêu cầu hàm lượng Fe, Cu, Ni rất thấp, là hợp kim Mg đúc áp lực được sử dụng phổ biến nhất hiện nay [3].

Báo cáo của hiệp hội Mg thế giới IMA trong Hình 1.2 cho thấy Mg được ứng dụng nhiều nhất trong hợp kim nhôm và hợp kim Mg đúc áp lực, chiếm tổng 69 % lượng Mg sản xuất trên toàn thế giới trong năm 2016 [10]. Khả năng ứng dụng của Mg trước đây bị hạn chế bởi chi phí và năng lượng sản xuất tương đối cao cũng như công nghệ chế tạo hợp kim chưa phát triển. Tuy nhiên hiện nay, nghiên cứu và sản xuất Mg trên thế giới đã được đẩy mạnh, đặc biệt trong hai thập kỷ qua thể hiện trong Hình 1. Mỹ và Canada là các quốc gia sản xuất Mg chính trong những năm 1990, nhưng từ cuối những năm 90, cuộc cách mạng công nghiệp ở Trung Quốc đã chứng kiến quốc gia này trở thành nhà sản xuất lớn nhất thế giới với hơn 85 % sản lượng toàn cầu theo dữ liệu năm 2017 [10].

Một số ứng dụng của Mg [10] Hình 1. Dữ liệu báo cáo về sản xuất Mg của hiệp hội Mg quốc tế IMA [10] Hiện nay, với xu hướng chuyển dịch sản xuất từ Trung Quốc sang các quốc gia khác như Samsung đã chuyển toàn bộ nhà máy sản xuất điện thoại thông minh sang Việt Nam hay sự phát triển công nghiệp ô tô Việt Nam với yêu cầu nội địa hóa và phát triển công nghiệp phụ trợ mà nước ta có nhu cầu rất lớn về Mg và hợp kim của Mg trong chế tạo các kết cấu ô tô, xe máy, vỏ điện thoại, máy tính. Tuy nhiên toàn bộ lượng hợp kim Mg tiêu thụ đều phải nhập khẩu, điều đó thúc đẩy Việt Nam cần phải phát triển sản xuất Mg và hợp kim Mg để tự chủ nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước. Các nguyên liệu thô sản xuất Mg 1.

Magnesit Trong tự nhiên, magnesit có thành phần chủ yếu là MgCO3 ngoài ra còn có canxi, sắt và mangan thấp là tạp chất. Magnesit có mạng tinh thể lục giác, có màu trắng hoặc vàng nhạt. Magnesit cũng có mặt trong các đá cacbonat thứ cấp, tồn tại trong đất và dưới lòng đất, nơi khoáng vật này được lắng đọng do kết quả của việc giải phóng các khoáng chất mang magie dạng cacbon dioxit trong nước ngầm. Magnesit phổ biến ở Brazil, Áo, Hàn Quốc, Trung Quốc và Bờ Tây Hoa Kỳ [11,12].

Việt Nam cũng có trữ lượng quặng Magnesit tương đối lớn, đặc biệt là magnesit ở Gia Lai [13,14]. Dolomit Dolomit là khoáng sản kết tinh có mạng hình tứ diện, tạo thành các tinh thể trắng, xám hoặc hồng. Dolomit là một cacbonat kép CaMg(CO3)2, có sự sắp xếp cấu trúc 5 xen kẽ các ion canxi và magie. Dolomit không tan nhanh hoặc sủi bọt trong axit clohidric pha loãng như canxit.

Một lượng nhỏ sắt trong cấu trúc dolomit làm cho khoáng chất này có các tinh thể màu vàng đến màu nâu. Dolomit là nguồn khoáng sản chứa oxit magie, là nguyên vật liệu chủ yếu trong quy trình Pidgeon [11,12]. Bishofit Bishofit là khoáng chất không màu có thể thu được dưới dạng sản phẩm phụ của quá trình sản xuất kali, hoặc khai thác trong tự nhiên, nước biển. Nó được chiết xuất từ các dung dịch nước muối như nước biển bằng cách loại bỏ nước và kết tinh các muối khác.

Tỷ lệ phần trăm khối lượng magie trong Bishofit là 11,96 % [11,12]. Carnalit Carnalit chủ yếu là nguyên liệu thô để sản xuất kali và magie. Nó xuất hiện trong trầm tích của các hồ nước biển đã cạn. Quá trình hình thành Carnalit đòi hỏi các điều kiện khí hậu đặc biệt cho phép xảy ra quá trình bay hơi tự nhiên liên tục và mạnh mẽ.

Ngoài ra, lưu vực hình thành phải có một địa hình đặc biệt. Các điều kiện điển hình của loại này được tìm thấy ở Biển Chết, nơi Carnalit xuất hiện dưới dạng khối lớn và không có hình dạng tinh thể. Carnalit đặc biệt nhẹ, với khối lượng riêng chỉ 1,6 g/cm3. Các hoạt động công nghiệp trong khai thác và sản xuất Carnalit rất thân thiện với môi trường.

Carnalit là một khoáng sản thô phổ biến ở các khu vực sau: Mexico, Mỹ, Đức, Nga, Trung Quốc, Iran và Israel. Tỷ lệ phần trăm khối lượng magie trong Carnalit là khoảng 8,75 % [11,12]. Serpentin Serpentin là nhóm khoáng vật silicat có đặc tính hóa học tương tự nhưng cấu trúc khác nhau. Nhóm này được sản xuất từ các khoáng chất giàu magie và bao gồm chủ yếu là silicat hydroxit màu xanh lục.

Các khoáng chất được biết đến nhiều nhất trong nhóm serpentin được gọi là chrysotil và có công thức hóa học Mg3[Si2O5(OH)4. Hầu hết các khoáng chất trong nhóm serpentin bao gồm các sợi amiăng và do đó đây là nguồn nguyên liệu chính của amiăng thương mại. Cấu trúc serpentin bao gồm các lớp silicat tứ diện với các lớp Mg(OH)4 ở giữa. Serpentin cũng có thể thu được như một sản phẩm phụ trong các quy trình sản xuất amiăng.

Serpentin được tìm thấy nhiều ở Pháp, Hàn Quốc, Áo, Ấn Độ, Afghanistan, Anh Quốc, Hy Lạp, Nga, Myanmar, New Zealand, Hoa Kỳ [11,12]. Tại Việt Nam, serpentin cũng có nhiều ở khu vực Yên Bái với màu xanh nhạt, ở Gia Lai có màu xanh vàng còn ở Đắk Lắk với màu xanh lục đậm. Tỷ lệ phần trăm khối lượng magie trong serpentin là trên 26,33 % [13]. Nước biển Ion magie là thành phần phổ biến thứ ba trong nước biển.

Nồng độ của nó thay đổi giữa các vùng biển khác nhau, khoảng 0,13 % ở vùng bề mặt và 4,2 % ở vùng nước sâu. Các ion magie trong nước biển hình do sự xói mòn. Trong nước biển ion magie có chức năng sinh thái quan trọng ở chỗ tích lũy nồng độ CO cao, giữ khí này không thoát ra khí quyển. Độ hòa tan thấp của các muối này được sử dụng để sản xuất magie từ nước biển bằng cách thêm một chất tạo kết tủa như Ca(OH)2 [11,12].

Nguyên liệu thô sản xuất Mg ở Việt Nam Ở Việt Nam hiện này đều có sẵn các loại nguyên liệu thô để sản xuất Mg, tuy nhiên nhiều nhất và sẵn có là quặng magnesit và dolomit [13,15]. Theo báo cáo của Công 6 ty cổ phần tập đoàn Thái Dương - đơn vị đang sở hữu mỏ magnesit Gia Lai, tại khu vực Tây Kon Queng, xã Sơ Ró, huyện KoChro, Gia Lai, mỏ có tổng trữ lượng magnesit là hơn 8 triệu tấn [15]. Nguồn quặng dolomit cũng rất phong phú, phân bố suốt dọc bờ biển từ Bắc đến Nam. Riêng tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều mỏ ở Hà Trung, Nga Sơn với trữ lượng hơn 14 triệu tấn [14].

Thành phần điển hình của dolomit Thanh Hóa và magnesit Gia Lai được chỉ ra ở Bảng 1. Một nguồn nguyên liệu khác là nước biển, tuy nhiên nước biển sử dụng hiệu quả để sản xuất Mg là nước biển sâu với khoảng 4% Mg hoặc nước biển tại các hồ muối lớn trải qua quá trình bay hơi – ngưng tụ hàng nghìn năm như Biển Chết hay hồ Great Salt tại Utah, Mỹ mới phù hợp làm nguyên liệu thô. Thành phần chính của một số nguyên liệu thô ở Việt Nam có thể dùng sản xuất Mg so với Magnesit Liêu Ninh, Trung Quốc Thành phần SiO2, Fe2O3, MgO, CaO, Quặng % % % % Magnesit Gia Lai [15] 2,09 0,81 40,52 1,88 Dolomit Thanh Hóa [16] 0,34 00,17 22,3 29,4 Serpentin Bãi Áng, Thanh Hóa [13] 39,96 7,41 32,43 4,97 Magnesit Liêu Ninh, Trung Quốc [17] 0,76 0,4 46,34 1,02 Nước biển (bề mặt) [11] 0,14 % Mg Quặng magie của nước ta hiện nay được khai thác chủ yếu làm vật liệu xây dựng, làm đá lát đường và làm gạch chịu lửa. Rõ ràng là nguyên vật liệu để chế tạo magie ở trong nước tương đối phong phú, có nhiều thuận lợi nhưng đang được sử dụng kém hiệu quả về kinh tế trong khi chúng ta rất cần magie kim loại và hợp kim magie cho các mục đích sản xuất giá trị cao.

Các phương pháp sản xuất Mg Sản xuất Mg là một ngành công nghiệp lâu đời có gần một trăm năm nay, một trong những ưu điểm của ngành công nghiệp này là sự đa dạng với hơn mười phương pháp và quy trình khác nhau để sản xuất Mg. Không giống như nhiều ngành công nghiệp luyện kim khác, không có một công nghệ hay quy trình nào chi phối ngành công nghiệp sản xuất Mg trên thế giới. Phân loại các phương pháp sản xuất Mg thường bắt nguồn từ các yếu tố cơ bản của các quy trình như nguyên liệu thô, chất hoàn nguyên, nhiệt độ hoàn nguyên [18]. Nguyên liệu thô, có sáu nguồn nguyên liệu thô thường được sử dụng để sản xuất magie: magnesit, dolomit, bishofit, carnalit, serpentin và nước biển [11].

Những nguồn nguyên liệu này khác nhau về hàm lượng magie do phương pháp sản xuất và nguồn gốc của chúng. Một số được khai thác từ các mỏ khoáng sản, một số khác bắt nguồn từ các quy trình chế biến từ nước biển ở các hồ muối và một nguồn vật liệu khác là xỉ thải của quá trình sản xuất vật liệu khác. Chất hoàn nguyên và phương pháp hoàn nguyên, Mg luôn xuất hiện trong tự nhiên ở dạng ion với sự sắp xếp electron như sau: 1S22S22P63S2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu tổng hợp Mg kim loại từ dolomit Thanh Hóa" là một công trình khoa học chuyên sâu, tập trung vào việc tìm hiểu và phát triển quy trình tổng hợp magie kim loại từ nguồn nguyên liệu dolomit tại Thanh Hóa. Nghiên cứu này không chỉ mang lại giá trị khoa học cao mà còn có tiềm năng ứng dụng thực tiễn trong các ngành công nghiệp như luyện kim, vật liệu và hóa học. Độc giả sẽ được tiếp cận với các phương pháp tối ưu hóa quy trình, phân tích chi tiết về hiệu suất và chất lượng sản phẩm, cũng như những đóng góp mới trong lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức về các công nghệ tổng hợp và xử lý vật liệu, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ công nghệ hóa học nghiên cứu chế tạo vật liệu nano gamma nhôm oxit yal2o3, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học thiết kế vật liệu fedoped cryptomelane để xử lý phẩm nhuộm màu, và Luận văn quy trình chế tạo vật liệu phát quang zns al cu. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều về các phương pháp chế tạo và ứng dụng vật liệu trong công nghệ hiện đại.