Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng đánh giá kết quả điều trị và mối liên quan giữa tổn thương gan với biến chứng sốt xuất huyết dengue ở trẻ em tại bệnh viện nhi đồng cần thơ n

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, đánh giá kết quả điều trị sốt xuất huyết dengue ở trẻ em tại bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ.

Chuyên ngành

Nhi khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn bác sĩ nội trú

2020

126
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Đại cƣơng về bệnh sốt xuất huyết Dengue

2.1.1. Định nghĩa bệnh sốt xuất huyết Dengue

2.1.2. Sơ lược về đặc điểm chung bệnh sốt xuất huyết Dengue

2.1.2.1. Khí hậu, thời tiết
2.1.2.2. Địa lý
2.1.2.3. Tuổi, giới tính
2.1.2.4. Nguyên nhân gây bệnh SXHD
2.1.2.5. Trung gian truyền bệnh
2.1.2.6. Cơ chế bệnh sinh của sốt xuất huyết Dengue

2.1.3. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue

2.1.3.1. Sốt cao
2.1.3.2. Dấu xuất huyết
2.1.3.3. Gan to
2.1.3.4. Diễn tiến của bệnh sốt xuất huyết Dengue

2.1.4. Cận lâm sàng

2.1.4.1. Công thức máu

2.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ CHẨN ĐOÁN SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

2.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHI SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

2.4. MỐI LIÊN QUAN GIỮA TỔN THƯƠNG GAN VỚI BIẾN CHỨNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

2.5. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Đạo đức trong nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tổn thương gan và sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em

Tổn thương gan là một trong những biến chứng nghiêm trọng của sốt xuất huyết Dengue, đặc biệt ở trẻ em. Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ từ năm 2018 đến 2020 cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa tổn thương gan và các biến chứng của bệnh. Sốt xuất huyết Dengue, do vi rút Dengue gây ra, có thể dẫn đến tình trạng viêm gan và rối loạn chức năng gan. Việc hiểu rõ về tổn thương gan trong bối cảnh sốt xuất huyết là rất quan trọng để cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhi.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em

Sốt xuất huyết Dengue thường khởi phát với triệu chứng sốt cao, đau cơ, và xuất huyết. Theo nghiên cứu, triệu chứng gan to xuất hiện ở 86% trẻ em mắc bệnh. Điều này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi chức năng gan trong quá trình điều trị.

1.2. Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Cần Thơ

Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Cần Thơ diễn biến phức tạp, với số ca mắc tăng cao trong những năm gần đây. Năm 2019, số ca mắc đạt mức cao nhất trong lịch sử, cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị tổn thương gan ở trẻ em

Điều trị tổn thương gan trong sốt xuất huyết Dengue gặp nhiều thách thức. Các bác sĩ phải đối mặt với tình trạng bệnh diễn biến nhanh và khó lường. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng để giảm thiểu biến chứng. Nghiên cứu cho thấy rằng tổn thương gan có thể dẫn đến sốc và tử vong nếu không được xử lý đúng cách.

2.1. Các biến chứng nghiêm trọng của sốt xuất huyết Dengue

Các biến chứng như sốc và tổn thương đa cơ quan thường xảy ra ở trẻ em mắc sốt xuất huyết Dengue nặng. Tổn thương gan có thể làm tăng nguy cơ tử vong, do đó cần có sự theo dõi chặt chẽ.

2.2. Khó khăn trong việc chẩn đoán tổn thương gan

Chẩn đoán tổn thương gan trong sốt xuất huyết Dengue có thể gặp khó khăn do triệu chứng không điển hình. Việc sử dụng các xét nghiệm cận lâm sàng như men gan là cần thiết để đánh giá tình trạng bệnh.

III. Phương pháp nghiên cứu tổn thương gan ở trẻ em mắc sốt xuất huyết Dengue

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ với các phương pháp lâm sàng và cận lâm sàng. Các bệnh nhi được theo dõi triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm máu và siêu âm gan. Phương pháp này giúp xác định mối liên quan giữa tổn thương gan và biến chứng sốt xuất huyết Dengue.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, với đối tượng là trẻ em từ 1 đến 15 tuổi mắc sốt xuất huyết Dengue tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ trong giai đoạn 2018-2020.

3.2. Các chỉ số cận lâm sàng được sử dụng

Các chỉ số cận lâm sàng như men gan (AST, ALT), số lượng tiểu cầu và các xét nghiệm đông máu được sử dụng để đánh giá tình trạng tổn thương gan và mức độ nặng của bệnh.

IV. Kết quả nghiên cứu về tổn thương gan và biến chứng sốt xuất huyết Dengue

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan rõ rệt giữa tổn thương gan và các biến chứng của sốt xuất huyết Dengue. Tỷ lệ trẻ em có tổn thương gan cao hơn ở nhóm bệnh nhân nặng. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi chức năng gan trong quá trình điều trị.

4.1. Tỷ lệ tổn thương gan ở trẻ em mắc sốt xuất huyết

Tỷ lệ tổn thương gan ở trẻ em mắc sốt xuất huyết Dengue là 70%, trong đó có 30% có triệu chứng nặng. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời.

4.2. Mối liên quan giữa tổn thương gan và sốc

Nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em có tổn thương gan có nguy cơ cao hơn bị sốc. Tỷ lệ sốc ở nhóm có tổn thương gan là 40%, trong khi nhóm không có tổn thương chỉ là 10%.

V. Kết luận và triển vọng trong nghiên cứu tổn thương gan

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tổn thương gan là một biến chứng nghiêm trọng của sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể cải thiện kết quả điều trị. Tương lai cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về cơ chế và cách điều trị tổn thương gan trong sốt xuất huyết.

5.1. Tầm quan trọng của việc theo dõi chức năng gan

Theo dõi chức năng gan là rất quan trọng trong điều trị sốt xuất huyết Dengue. Điều này giúp phát hiện sớm các biến chứng và can thiệp kịp thời.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm các nghiên cứu về cơ chế tổn thương gan và các phương pháp điều trị mới để cải thiện kết quả cho trẻ em mắc sốt xuất huyết Dengue.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng đánh giá kết quả điều trị và mối liên quan giữa tổn thương gan với biến chứng sốt xuất huyết dengue ở trẻ em tại bệnh viện nhi đồng cần thơ n

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh nhiễm trùng cấp tính có thể gây thành dịch do vi rút Dengue gây ra, qua trung gian truyền bệnh là muỗi vằn Aedes aegypti. Trên lâm sàng, bệnh có khuynh hướng vào sốc giảm thể tích do thất thoát huyết tương và xuất huyết do rối loạn đông máu [21]. Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh thường gặp ở người và hết sức nguy hiểm nếu có sốc xảy ra. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có khoảng 50-100 triệu người nhiễm vi rút Dengue và 250.000 bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue được báo cáo trên toàn thế giới, trong đó phần lớn là trẻ em.

Trong khoảng 30 năm (1980-2010), trong 5 quốc gia thuộc Đông Nam Á được đưa vào nghiên cứu, Việt Nam là quốc gia có số ca mắc cao nhất 2.444 người với 10. Cục Y tế dự phòng thống kê trong 7 tháng đầu năm 2017 ghi nhận 58.888 trường hợp mắc, tăng 9,7% so với năm 2016 [6]. Từ năm 1980, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra hướng dẫn điều trị và những tiến bộ về phương diện hồi sức chống sốc đã hạ thấp tỉ lệ tử vong. Tuy nhiên vẫn còn không ít những trường hợp tử vong do sốc sốt xuất huyết Dengue.

Theo thống kê của Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2013, trong tổng số 222 trường hợp sốt xuất huyết Dengue nặng nhập khoa Hồi sức cấp cứu, sốc sốt xuất Dengue nặng chiếm tỉ lệ còn khá cao (49,1%) [11]. Gan to là triệu chứng thường gặp và quan trọng trong bệnh sốt xuất huyết Dengue. Nhiều nghiên cứu cho thấy ở bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue chức năng gan ít nhiều bị rối loạn [27], [65]. Tế bào gan người là tế bào đích của vi rút Dengue và vi rút Dengue gây ra tiến trình hoại sinh trong tế bào này [8].

Những biểu hiện viêm gan trong quá trình bệnh có thể do phản ứng trực tiếp của vi rút trên tế bào gan, gây ra tình trạng bệnh nặng. Nghiên cứu của Trung D T và cộng sự, thấy rằng transaminses tăng trong hầu hết các ca bệnh và 2 nhận thấy mức độ men gan có mối liên quan với độ nặng của bệnh [42]. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về tổn thương gan trên bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue nhưng ở Việt Nam nói chung, địa bàn thành phố Cần Thơ nói riêng, tài liệu nghiên cứu về vấn đề trên thì còn hạn chế trong tình hình dịch sốt xuất huyết Dengue còn diễn biến phức tạp. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đánh giá kết quả điều trị và mối liên quan giữa tổn thƣơng gan với biến chứng sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em tại bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2018-2020" với 3 mục tiêu: 1.

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em tại bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2018-2020. Đánh giá kết quả điều trị sốt xuất huyết Dengue ở trẻ em tại bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2018-2020. Xác định mối liên quan giữa tổn thương gan với biến chứng sốt xuất huyết Dengue trẻ em tại bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2018-2020. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Đại cƣơng về bệnh sốt xuất huyết Dengue 1. Định nghĩa bệnh sốt xuất huyết Dengue Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây ra. Bệnh lây theo đường máu, trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes aegypti. Bệnh có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sốt cấp diễn và xuất huyết với nhiều dạng khác nhau, nếu bị sốc nặng dễ dẫn đến tử vong do giảm thể tích khối lượng máu lưu hành [17].

Sơ lược về đặc điểm chung bệnh sốt xuất huyết Dengue 1. Khí hậu, thời tiết Bệnh SXHD lưu hành ở vùng thuộc khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Thời gian xảy ra bệnh trong năm khác nhau giữa hai miền. Ở miền Nam nước ta thường xảy ra quanh năm, nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 10, cao điểm vào tháng 6, 7 và 8.

Ở miền Bắc nước ta, dịch bùng phát vào tháng 6, 7, 8, 9 và chấm dứt nhanh vào tháng 10 khi nhiệt độ xuống thấp hơn 200C [7]. Sau cơn mưa đầu tiên bọ gậy bắt đầu nở, chu kỳ trưởng thành của bọ gậy ở 260C từ 11 đến 18 ngày. Sau khi hút máu một người nhiễm vi rút Dengue, muỗi aegypti cái có thể truyền bệnh sau thời kỳ ủ bệnh 3-10 ngày, hoặc có thể truyền bệnh ngay nếu hút máu một người dở dang rồi chuyển sang đốt người khác. Do đó sau cơn mưa đầu mùa, từ 14 đến 28 ngày đã có thể xuất hiện những bệnh nhân đầu tiên.

Sau mùa mưa, khí hậu trở nên mát và khô thì bệnh giảm xuống, có thể do mật độ muỗi giảm hoặc do tính năng đốt của muỗi giảm, hiện tượng này chưa được giải thích thỏa đáng [7]. Địa lý Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) bệnh SXHD hiện lưu hành trên 100 quốc gia thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, 4 trong đó vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, Châu Mỹ, Châu Phi có số người mắc SXHD cao nhất. Trên thế giới hằng năm có khoảng 2,5-3 tỷ người có nguy cơ mắc bệnh SXHD, mỗi năm có khoảng 80-100 triệu người mắc bệnh trong đó 500 ngàn người phải nhập viện [81]. Khoảng 90% bệnh nhân nhập viện là trẻ em dưới 15 tuổi, có tỷ lệ tử vong từ 1-5% [12].

Từ năm 1980-2010, theo một nghiên cứu dịch tễ học về bệnh SXHD ở 5 quốc gia (Indonesia, Malaysia, Phillipine, Thái Lan và Việt Nam), tổng số ca mắc là 6.482 ca tử vong. Việt Nam là quốc gia có tỉ số mắc bệnh SXHD cao nhất (113,9/100.000 dân) và cũng là quốc gia có tỉ số chết cao nhất (0,52 trường hợp tử vong/100. Tỉ số chết trên 100.000 dân tăng từ 120 năm 2009 (105.370 ca) lên 194 vào năm 2017 (184.000) và hầu hết số ca chết thuộc vùng trung tâm và miền Nam Việt Nam [84]. Năm 2019 là năm được TCYTTG báo cáo có số ca mắc SXHD cao nhất trong lịch sử.

Trong số các quốc gia có số ca mắc cao nhất, Việt Nam đứng thứ hai với 320.000 ca mắc SXHD, đứng sau Philippine 420. Như vậy, tình hình mắc bệnh và tử vong vì SXHD đang ngày một gia tăng, có diễn tiến phức tạp và trở thành một gánh nặng bệnh tật cho thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuổi, giới tính Bệnh gặp ở cả người lớn và trẻ em, không phân biệt về giới tính. Trẻ em dễ mắc bệnh hơn, lứa tuổi mắc bệnh có xu hướng ngày càng nhỏ dần và có nguy cơ tử vong cao [78].

Nguyên nhân gây bệnh SXHD là bệnh truyền nhiễm do vi rút Dengue gây ra. Vi rút Dengue thuộc nhóm RNA (Ribonucleic acid), có 4 tuýp huyết thanh là Dengue vi rút 1 (DEN-1), Dengue vi rút 2 (DEN-2), Dengue vi rút 3 (DEN-3), Dengue vi rút 4 (DEN-4), thuộc họ Flaviviridae, giống Flavivirus. 5 Sơ lược cấu trúc vi rút Dengue:  Các hạt vi rút Dengue có hình cầu, đường kính khoảng 40-60nm bao quanh bởi 1 lớp lipid kép gồm: + Vỏ virion có protein cấu trúc: protein vỏ E và ngoài màng M. + Nucleocapsid: bao gồm protein lõi C và bộ gen RNA.

 Các kháng nguyên chứa protein phi cấu trúc như: NS (Non-structure) 1, NS2A, NS2B, NS3, NS4A, NS4B, NS5. Trong đó NS1 đóng vai trò quan trọng trong nhiễm vi rút Dengue, là xét nghiệm giúp phát hiện sớm vi rút Dengue [81]. Trung gian truyền bệnh Bệnh không lây trực tiếp từ người sang người mà do muỗi đốt, người bệnh có mang vi rút sau đó truyền vi rút sang người lành qua vết đốt. Ở Việt Nam, hai loại muỗi truyền bệnh SXHD là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó quan trọng nhất là Aedes aegypti.

Muỗi Aedes aegypti sống trong nhà, thích hút máu người và cắn người vào ban ngày. Loại muỗi này sinh sản ở trong nước tương đối sạch như nước dự trữ để uống, giặt giũ, tắm,…. Vì muỗi Aedes aegypti có khả năng bay xa rất hạn chế nên sự lan rộng vi rút chủ yếu thông qua những vật có thể mang vi rút di động của người. Ở những vùng nhiệt đới, sự lan rộng vi rút Dengue liên quan mật thiết với mùa, gió mùa.

Trứng của muỗi lắng đọng trong những vật chứa nước, khi mùa mưa bắt đầu, lượng trứng này nở ra phát triển thành muỗi. Tỉ lệ muỗi cắn tăng khi nhiệt độ và độ ẩm tăng [27]. Cơ chế bệnh sinh của sốt xuất huyết Dengue Trong bệnh lý SXHD có hai biến đổi cơ bản: tăng tính thấm thành mạch và rối loạn đông máu. Hai quá trình này là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rối loạn huyết động học và xuất huyết.

Ở bệnh nhân SXHD, hệ thống bổ thể thường bị hoạt hóa. Nồng độ bổ thể (Compliment: C) C3 và C5 giảm, còn 6 C3a và C5a tăng. Cơ chế sốc SXHD có thể tóm tắt như sau: phức hợp vi rút Dengue kết hợp với kháng thể xâm nhập vào tế bào đơn nhân, số lượng tế bào đơn nhân nhiễm vi rút sẽ tăng lên từ đó sẽ hoạt hóa các CD4, CD8, lympho độc tế bào; các lympho T hoạt hóa giải phóng nhiều cytokines; các tế bào đơn nhân nhiễm vi rút bị phân giải qua trung gian tế bào lympho độc cũng giải phóng cytokines, làm tăng tính thấm thành mạch cuối cùng gây thoát huyết tương và xuất huyết. Tăng tính thấm thành mạch gây ra hiện tượng thất thoát huyết tương, giảm thể tích tuần hoàn, hậu quả cuối cùng là sốc giảm thể tích.

Theo Guyton, khi thể tích tuần hoàn mất đi 10-15% thì cơ thể còn bù được, mất 20-30% thì sốc xảy ra, mất 30-40% thì huyết áp bằng 0 [46]. Rối loạn quá trình đông máu trong sốt xuất huyết Dengue là do thay đổi tính thấm thành mạch, giảm tiểu cầu và các yếu tố đông máu giảm do bị tiêu thụ trong quá trình tăng đông trong nội mạch dẫn đến tình trạng xuất huyết. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue 1. Sốt cao Bệnh khởi phát với sốt cao đột ngột, liên tục: thường là kéo dài 2-7 ngày, sốt >39oC, đôi khi lên đến 40oC-41oC, có thể sốt cao co giật ở trẻ nhỏ kèm theo các triệu chứng không đặc hiệu như chán ăn, nôn ói, đau cơ, nhức đầu, đau khớp xương, đau họng, đau bụng vùng thượng vị hoặc hạ sườn phải.

Một số tác giả trong và ngoài nước cũng đã có công trình nghiên cứu và ghi nhận các triệu chứng trên phù hợp với y văn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tổn Thương Gan và Biến Chứng Sốt Xuất Huyết Dengue Ở Trẻ Em Tại Bệnh Viện Nhi Đồng Cần Thơ (2018-2020)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa tổn thương gan và biến chứng của sốt xuất huyết dengue ở trẻ em. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các triệu chứng lâm sàng mà còn đánh giá các yếu tố nguy cơ và kết quả điều trị, từ đó giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế có thêm thông tin quý giá trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bệnh sốt xuất huyết dengue người lớn tại bệnh viện đa khoa tỉnh kiên giang năm 2021 2022, nơi cung cấp thông tin về sốt xuất huyết ở người lớn, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về bệnh này.

Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng kết quả điều trị và giá trị tiên lượng của lactate máu trong sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chỉ số tiên lượng trong điều trị cho trẻ em bị sốc nhiễm khuẩn, một vấn đề có thể liên quan đến tình trạng tổn thương gan.

Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận làm sàng sự thay đổi một số thông số trên siêu âm tim và đánh giá kết quả điều trị thay van hai lá cơ học sẽ cung cấp thêm thông tin về các can thiệp y tế phức tạp, giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các phương pháp điều trị hiện đại.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn mà còn cung cấp những góc nhìn khác nhau về các vấn đề y tế liên quan, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe trẻ em trong bối cảnh sốt xuất huyết dengue.