Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Anh Thơ thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (người hướng dẫn khoa học: GS. Nguyễn Ngọc Hòa, năm 2012), thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và tố tụng hình sự (mã số: 62 38 01 04).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bảo hiểm xã hội (BHXH) được xác định là trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam. Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp đã hình thành lực lượng lao động làm công ăn lương lớn. BHXH đóng vai trò thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi gặp các rủi ro xã hội (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết). Tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy các hành vi vi phạm trong lĩnh vực BHXH ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp.
Theo báo cáo tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Luật BHXH ngày 29/11/2011 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tính đến ngày 31/8/2011, số tiền BHXH bị các đơn vị sử dụng lao động chiếm dụng là 4.611 tỷ đồng. Đến ngày 30/6/2012, số liệu thống kê của BHXH Việt Nam cho thấy con số nợ đọng đã tăng thêm gần 4.000 tỷ đồng, nâng tổng số tiền BHXH chưa đóng lên hơn 8.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó là tình trạng mua bán giấy chứng nhận nghỉ ốm giả, lập sổ khám bệnh khống, hồ sơ bệnh án khống để trục lợi quỹ BHXH và bảo hiểm y tế (BHYT).
Trước thực trạng đó, các chế tài xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định số 135/2007/NĐ-CP, sau đó được thay thế bởi Nghị định số 86/2010/NĐ-CP về BHXH và Nghị định số 92/2011/NĐ-CP về BHYT) với mức phạt tiền tối đa nâng từ 20 triệu đồng lên 30 triệu đồng vẫn chưa đủ sức răn đe. Việc cơ quan BHXH khởi kiện dân sự đòi nợ đọng gặp nhiều trở ngại trong khâu thi hành án; việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra đề nghị xử lý hình sự về tội không chấp hành án theo Bộ luật Hình sự (BLHS) cũng vướng mắc. Nguyên nhân cốt lõi là BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) không quy định các tội danh riêng biệt trong lĩnh vực BHXH. Các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ có thể vận dụng các tội danh chung (lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tham ô tài sản, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng), dẫn tới việc bỏ lọt nhóm hành vi trốn đóng BHXH của người sử dụng lao động và chưa bảo đảm yêu cầu phân hóa trách nhiệm hình sự. Về mặt lý luận, các khái niệm, đặc điểm, tiêu chí phân loại và ranh giới giữa tội phạm với vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH chưa được làm rõ một cách hệ thống.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho các kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về nhóm tội phạm trong lĩnh vực BHXH tại Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu một cách toàn diện lý luận về tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH;
- Nghiên cứu thực tiễn lập pháp và thực tiễn áp dụng các quy định về tội phạm trong lĩnh vực BHXH của Việt Nam và một số nước trên thế giới;
- Kiến nghị hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng như hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật hành chính về vi phạm trong lĩnh vực BHXH để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về tội phạm và trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực BHXH; các quy định pháp luật hình sự, hành chính, chuyên ngành BHXH của Việt Nam và quốc tế; thực tiễn áp dụng pháp luật xử lý vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực BHXH.
- Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu thực tiễn pháp luật tại Việt Nam, kết hợp khảo cứu, so sánh kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau (Đức, Anh, Mỹ, Pháp, Nga, Philippines, Thái Lan, Campuchia, Mông Cổ, Iran, Slovenia, Ấn Độ).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát các quan điểm khoa học, văn bản lập pháp và các vụ án điển hình trong thực tiễn áp dụng pháp luật từ năm 2005 đến năm 2012.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm lại
Tác giả phân chia các công trình nghiên cứu về chính sách và pháp luật BHXH tại Việt Nam thành hai giai đoạn chính:
-
Giai đoạn trước năm 1995 (thời kỳ bao cấp về BHXH, 1961–1994):
- Trong giai đoạn sau năm 1990 (hậu bao cấp), tỷ trọng mức chi trả BHXH từ ngân sách nhà nước tăng từ 73,82% (năm 1990) lên 92,7% (năm 1993), tạo áp lực nặng nề lên ngân sách. Các nghiên cứu tập trung phục vụ cải cách chính sách BHXH và tách bạch chức năng quản lý với chức năng thực hiện, tiêu biểu tại Hội thảo quốc gia năm 1992 về BHXH (Dự án VIE/90-017):
- Nguyễn Văn Châu (Bộ Tài chính) với bài viết "Quan điểm tài chính trong việc đổi mới BHXH ở nước ta", đánh giá cơ chế tài chính quỹ BHXH và đề xuất các giải pháp đổi mới quản lý tài chính;
- Trần Quang Hùng (Viện Khoa học Lao động và các vấn đề xã hội) với bài viết "Một số vấn đề lý luận về BHXH trong nền kinh tế thị trường", so sánh BHXH với bảo hiểm thương mại;
- Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến với nghiên cứu "Cơ sở khoa học của BHXH từ góc độ đổi mới", phân tích nguồn hình thành quỹ, các chế độ và phương thức thực hiện BHXH;
- L. Villacorta (chuyên gia kỹ thuật ILO) với bài nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị lộ trình đổi mới hệ thống BHXH cho Chính phủ Việt Nam;
- Các nghiên cứu của chuyên gia Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội như TS. Nguyễn Hữu Dũng, Lê Luyện, Hà Ngọc Quế.
-
Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2012 (thời kỳ cải cách chính sách BHXH):
- Luận án Phó tiến sĩ luật học của Nguyễn Huy Ban (1996): "Hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn", đề xuất mô hình xây dựng Luật BHXH, cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm;
- Luận án Tiến sĩ của Đỗ Văn Sinh (2004): "Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam", phân tích thực trạng tài chính và cân đối quỹ BHXH;
- Sách chuyên khảo của Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến (1998): "Đổi mới chính sách BHXH đối với người lao động" (Nxb. Chính trị quốc gia);
- Đề tài cấp ngành của Hà Văn Chỉ (2003): "Chế độ lương hưu của các đối tượng nghỉ hưu thời kỳ trước và sau năm 1995, thực trạng và giải pháp";
- "Báo cáo đánh giá hệ thống chính sách BHXH" của Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bản tin số 25, 2011);
- Đề án khoa học cấp ngành của Lê Quyết Thắng và nhóm nghiên cứu tại BHXH Việt Nam (2009): "Xây dựng quy trình tham gia tố tụng và chế tài xử phạt vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT và BHTN", đề xuất sửa đổi Nghị định 135/2007/NĐ-CP và kiến nghị tội phạm hóa một số hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH;
- Nghiên cứu quốc tế của Hu Jiye (2009): "An approach on social security anti-fraud Law in China" trong khuôn khổ dự án hợp tác EU - Trung Quốc, đề xuất hệ thống giải pháp pháp luật hành chính, thuế, dân sự và bổ sung tội gian lận BHXH vào luật hình sự Trung Quốc.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận BHXH dưới góc độ chính sách kinh tế - xã hội, quản lý tài chính quỹ, chế độ thụ hưởng, hoàn thiện pháp luật hành chính hoặc thủ tục tố tụng dân sự. Đến thời điểm năm 2012, chưa có công trình khoa học ở cấp độ luận văn thạc sĩ hay luận án tiến sĩ nào nghiên cứu trực diện, toàn diện về tội phạm trong lĩnh vực BHXH dưới góc độ luật hình sự và tội phạm học tại Việt Nam. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống lý luận và thực tiễn lập pháp này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khung an sinh xã hội quốc tế: Sử dụng Công ước số 102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội (quy định 9 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp, y tế, trợ cấp gia đình, trợ cấp tàn tật). Việt Nam áp dụng 7 trong 9 chế độ này.
- Mô hình tổ chức quỹ BHXH: Phân tích 3 mô hình cơ bản trên thế giới: (1) Mô hình BHXH toàn dân (quỹ hưu trí trả đồng mức: Nam Phi, Canada, Thụy Điển); (2) Mô hình chương trình hưu trí đóng - hưởng với mức hưởng xác định/quỹ tồn tích cộng đồng (Đức, Pháp, Ý, Mỹ, Việt Nam); (3) Mô hình mức đóng xác định/tài khoản cá nhân (Mexico, Costa Rica...).
- Khái niệm BHXH: Luận án tiếp cận theo nghĩa hẹp (bảo hiểm thu nhập cho người lao động) và nghĩa rộng (bao gồm cả bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế).
- Khái niệm tội phạm trong lĩnh vực BHXH: Luận án phân định hai nhóm:
- Tội phạm có tính riêng biệt: Các hành vi vi phạm trực tiếp quy định của pháp luật BHXH ở mức độ nguy hiểm cho xã hội (chỉ xảy ra trong lĩnh vực BHXH);
- Tội phạm không có tính riêng biệt: Các tội phạm chung xảy ra trong lĩnh vực BHXH (như tham ô tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ quyền hạn).
- Khái niệm tổng quát được luận án xác lập: Tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật BHXH, được quy định là tội phạm trong Bộ luật hình sự hoặc trong các luật liên quan đến BHXH, gây thiệt hại cho quỹ BHXH, cho quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia BHXH.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan), các dấu hiệu pháp lý, chế tài xử lý vi phạm hành chính và hình sự.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định pháp luật hình sự và chuyên ngành BHXH của Việt Nam với các nước thuộc hệ thống Thông luật (Anh, Mỹ), hệ thống Châu Âu lục địa (Pháp, Đức, Slovenia), hệ thống pháp luật XHCN (Liên Xô trước đây, Liên bang Nga hiện nay) và các nước Đông Nam Á (Thái Lan, Philippines, Campuchia).
- Phương pháp nghiên cứu án điển hình và tổng kết thực tiễn: Khảo sát các số liệu nợ đọng, các hành vi gian lận hồ sơ bảo hiểm, các vụ án hình sự liên quan đến BHXH được xét xử từ năm 2005 đến năm 2012.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: BLHS năm 1999 (sửa đổi 2009), Luật BHXH năm 2006, Luật BHYT năm 2008, Nghị định 135/2007/NĐ-CP, Nghị định 86/2010/NĐ-CP, Nghị định 92/2011/NĐ-CP;
- Văn bản pháp luật quốc tế: Công ước 102 của ILO, Luật An sinh xã hội Anh (1998), Luật An sinh xã hội Mỹ (1935), BLHS Đức (Điều 266a), Luật An sinh xã hội Philippines (Điều 28), Luật BHXH Thái Lan (Điều 92), Luật BHXH Mông Cổ (Điều 20), Luật BHXH Iran (Điều 97–109);
- Dữ liệu thống kê thực tế từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Luật BHXH, 2011) và Bảo hiểm xã hội Việt Nam (tính đến tháng 6/2012);
- Các bản án, báo cáo tổng kết thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân và tài liệu điều tra tội phạm kinh tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Những vấn đề chung về tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Chương I tập trung xây dựng cơ sở lý luận về tội phạm trong lĩnh vực BHXH, phân tích 4 yếu tố cấu thành tội phạm và xác lập tiêu chí phân biệt với vi phạm hành chính:
- Quan hệ pháp luật BHXH: Hoạt động BHXH gồm 3 bên: Bên tham gia BHXH (người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước); Bên BHXH (cơ quan BHXH Việt Nam quản lý, thu quỹ và chi trả); Bên được BHXH (người lao động và thân nhân).
- Các yếu tố cấu thành tội phạm trong lĩnh vực BHXH:
- Khách thể: Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đóng, hưởng và quản lý quỹ BHXH được luật hình sự bảo vệ;
- Mặt khách quan: Hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH (trốn đóng, đóng thiếu, chậm đóng), hành vi gian lận hồ sơ để chiếm đoạt tiền hưởng BHXH, hoặc vi phạm quy định quản lý quỹ;
- Chủ thể: Cá nhân (người sử dụng lao động, người tham gia bảo hiểm, cán bộ BHXH, giám định viên y khoa, bác sĩ) và pháp nhân (đối với các quốc gia công nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân);
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý hoặc vô ý (chủ yếu là lỗi cố ý trực tiếp nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ tài chính).
- Phân loại tội phạm trong lĩnh vực BHXH:
- Phân loại theo chủ thể: Nhóm tội do người sử dụng lao động thực hiện; nhóm do cán bộ cơ quan BHXH thực hiện; nhóm do người có thẩm quyền trong các cơ quan liên quan (bác sĩ, giám định viên) thực hiện; nhóm do người tham gia hoặc thụ hưởng thực hiện.
- Phân loại theo các yếu tố cấu thành hoạt động BHXH: Nhóm tội vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH; Nhóm tội vi phạm quyền thụ hưởng BHXH; Nhóm các tội phạm khác về BHXH (quản lý quỹ, nội bộ cơ quan).
- Phân loại theo nguồn pháp luật quy định: Quy định trong BLHS hoặc quy định tại các luật chuyên ngành về BHXH.
- Tiêu chí phân biệt tội phạm và vi phạm hành chính:
- Mức độ thiệt hại về vật chất gây ra cho quỹ BHXH được tính thành tiền;
- Thời gian trốn đóng, đóng thiếu hoặc chậm đóng BHXH cho người lao động;
- Số lượng người lao động bị vi phạm quyền lợi về BHXH;
- Số lượng hồ sơ có sai phạm;
- Tình tiết tái phạm hành chính (đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm).
- Kinh nghiệm quốc tế:
- Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức quy định tội danh trốn nộp BHXH tại Điều 266a BLHS;
- Pháp luật Vương quốc Anh quy định các tội danh gian lận và trốn đóng BHXH tại Điều 60, Điều 61 Luật An sinh xã hội năm 1998;
- Pháp luật Thái Lan quy định các tội phạm trong lĩnh vực BHXH tại Điều 92 Phần IV Luật BHXH với các khung phạt tiền từ 10.000 đến 20.000 baht và phạt tù từ 1 tháng đến 6 tháng đối với các hành vi không cung cấp thông tin, cung cấp sai sự thật, tiết lộ bí mật (Điều 32), không gửi danh sách người lao động (Điều 34), cản trở thanh tra (Điều 80), từ chối đăng ký tham gia (Điều 84).
| Tiêu chí |
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH |
Tội phạm trong lĩnh vực BHXH |
| Tính nguy hiểm cho xã hội |
Mức độ nguy hiểm thấp hơn, thiệt hại vật chất nhỏ, quy mô ít nghiêm trọng |
Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, thiệt hại lớn về tiền, quy mô lớn hoặc kéo dài |
| Căn cứ định danh |
Chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định |
Dựa trên số tiền thiệt hại, thời gian vi phạm, số lao động bị xâm phạm, số hồ sơ giả mạo, tái phạm hành chính |
| Hình thức pháp lý quy định |
Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính |
Bộ luật Hình sự (hoặc điều khoản hình sự trong Luật chuyên ngành tùy quốc gia) |
| Hậu quả pháp lý |
Chế tài hành chính (cảnh cáo, phạt tiền, biện pháp khắc phục) |
Hình phạt hình sự (cải tạo không giam giữ, phạt tù...), để lại án tích |
Chương II: Bộ luật hình sự Việt Nam với việc áp dụng để xử lý tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Chương II đánh giá thực trạng áp dụng BLHS năm 1999 (sửa đổi 2009) và lập luận về sự cần thiết phải tội phạm hóa các hành vi vi phạm có tính riêng biệt:
- Áp dụng các tội danh không có tính riêng biệt:
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS): Áp dụng đối với các hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm giả chứng từ, hồ sơ bệnh án để rút tiền trợ cấp BHXH hoặc chi trả khám chữa bệnh BHYT.
- Tội tham ô tài sản (Điều 278 BLHS): Áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan BHXH lợi dụng nhiệm vụ để chiếm đoạt tiền thu đóng hoặc tiền chi trả chế độ.
- Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281 BLHS): Áp dụng đối với hành vi giải quyết sai chế độ BHXH nhằm vụ lợi.
- Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144 BLHS): Áp dụng đối với cán bộ quản lý buông lỏng kiểm tra, để xảy ra thất thoát quỹ.
- Thực trạng và bất cập trong xử lý hành vi có tính riêng biệt:
- Về nghĩa vụ đóng góp: Tỷ lệ đóng BHXH tại Việt Nam tăng dần theo lộ trình luật định. Tính đến tháng 12/2009, tổng mức đóng là 25% (người sử dụng lao động đóng 18%, người lao động đóng 7%). Từ năm 2010, tổng mức đóng tăng lên 29,5% (người sử dụng lao động 20%, người lao động 8,5%, Nhà nước hỗ trợ BHTN 1%). Từ năm 2012, tổng mức đóng là 31,5% (người sử dụng lao động 21%, người lao động 9,5%, Nhà nước 1%).
- Tỷ lệ đóng cao khiến nhiều chủ sử dụng lao động tìm cách trốn tránh. Tuy nhiên, BLHS không có điều luật xử lý hành vi trốn đóng BHXH, dẫn tới khoảng trống pháp lý nghiêm trọng. Các cơ quan BHXH khởi kiện dân sự nhưng tỷ lệ thi hành án rất thấp do doanh nghiệp giải thể, tẩu tán tài sản hoặc chây ỳ.
- Các hành vi vi phạm có tính riêng biệt cần tội phạm hóa:
- Hành vi trốn đóng BHXH cho người lao động;
- Hành vi không đóng BHXH cho đủ số người lao động thuộc diện tham gia bắt buộc;
- Hành vi không đóng đủ mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH;
- Hành vi không đóng đúng thời hạn quy định (chiếm dụng, nợ đọng kéo dài).
| Giai đoạn thời gian |
Tỷ lệ người sử dụng lao động đóng |
Tỷ lệ người lao động đóng |
Nhà nước hỗ trợ (BHTN) |
Tổng tỷ lệ đóng (gồm BHXH, BHYT, BHTN) |
| Đến tháng 12/2009 |
18% |
7% |
- |
25% |
| Từ năm 2010 |
20% |
8,5% |
1% |
29,5% |
| Từ năm 2012 |
21% |
9,5% |
1% |
31,5% |
Chương III: Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quy định về tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Chương III đề xuất phương án lập pháp hình sự và các giải pháp hoàn thiện đồng bộ pháp luật xử lý vi phạm hành chính:
- Hoàn thiện các quy định của BLHS về các tội danh thuộc lĩnh vực BHXH:
- Nhóm 1: Các tội vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH của người sử dụng lao động: Tội trốn đóng BHXH; Tội gian dối để giảm mức đóng BHXH; Tội thu tiền BHXH của người lao động nhưng không nộp cho cơ quan BHXH.
- Nhóm 2: Các tội vi phạm quy định về quyền thụ hưởng BHXH: Tội gian lận để hưởng các chế độ BHXH (lập hồ sơ giả, khai man chứng từ); Tội lập hồ sơ bệnh án khống trục lợi BHYT.
- Nhóm 3: Các tội phạm khác liên quan đến quản lý và hoạt động BHXH: Quy định rõ các tình tiết tăng nặng trong các tội danh chức vụ khi hành vi xâm hại trực tiếp tới quỹ BHXH.
- Hai phương án hoàn thiện pháp luật hình sự được luận án đề xuất:
- Phương án 1 (giữ nguyên phạm vi nguồn luật và chủ thể hiện hành): Quy định trực tiếp các tội danh riêng biệt về BHXH vào một mục hoặc chương cụ thể trong BLHS sửa đổi; chủ thể chịu trách nhiệm hình sự là cá nhân (người đại diện theo pháp luật, người có thẩm quyền của đơn vị sử dụng lao động).
- Phương án 2 (mở rộng nguồn của luật hình sự và mở rộng chủ thể): Cho phép quy định tội phạm và hình phạt trong các luật chuyên ngành (Luật BHXH, Luật BHYT); đồng thời bổ sung quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm trong BLHS đối với các tội danh trốn đóng BHXH.
- Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính:
- Nâng mức phạt tiền tối đa đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH và BHYT tương xứng với số tiền trốn đóng/chiếm dụng;
- Quy định rõ thẩm quyền xử phạt của cơ quan Thanh tra chuyên ngành BHXH;
- Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan BHXH, cơ quan Công an và Viện kiểm sát trong việc chuyển giao hồ sơ có dấu hiệu tội phạm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Xây dựng định nghĩa khoa học hoàn chỉnh về tội phạm trong lĩnh vực BHXH đầu tiên tại Việt Nam;
- Phân tích và làm sáng tỏ các đặc điểm pháp lý, 4 yếu tố cấu thành tội phạm thuộc lĩnh vực BHXH;
- Phân định rõ hai nhóm tội phạm: nhóm tội phạm có tính riêng biệt (chỉ phát sinh trong lĩnh vực BHXH) và nhóm tội phạm không có tính riêng biệt (các tội danh chung xảy ra trong hoạt động BHXH);
- Thiết lập hệ thống tiêu chí định tính và định lượng để phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH (dựa trên số tiền thiệt hại, số lượng người lao động bị ảnh hưởng, khoảng thời gian vi phạm, số lượng hồ sơ sai phạm và yếu tố tái phạm hành chính).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp lập pháp
- Đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng BLHS năm 1999 để xử lý các vi phạm pháp luật BHXH từ năm 2005 đến năm 2012, chỉ ra những kẽ hở pháp luật dẫn đến tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH gia tăng;
- Đề xuất mô hình tổng thể bổ sung các tội danh riêng biệt trong lĩnh vực BHXH vào hệ thống pháp luật Việt Nam với 2 phương án lập pháp cụ thể (phương án giữ nguyên nguồn BLHS truyền thống và phương án mở rộng nguồn luật cùng trách nhiệm hình sự của pháp nhân);
- Mô tả cụ thể các dấu hiệu pháp lý bắt buộc (khách thể, hành vi khách quan, hậu quả, lỗi) của từng nhóm tội danh cần bổ sung: nhóm tội trốn đóng BHXH của người sử dụng lao động và nhóm tội gian lận chế độ BHXH, BHYT;
- Kiến nghị hoàn thiện đồng bộ các văn bản xử phạt vi phạm hành chính và cơ chế cưỡng chế thi hành nhằm bảo vệ quyền lợi an sinh của người lao động.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án được hoàn thành năm 2012, thời điểm hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam (BLHS năm 1999 sửa đổi 2009) chưa thừa nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân và chưa cho phép luật chuyên ngành quy định tội phạm;
- Dữ liệu thực tiễn và số liệu nợ đọng, xử lý án được giới hạn khảo cứu trong giai đoạn từ năm 2005 đến tháng 6/2012;
- Thực tiễn xử lý hình sự đối với nhóm hành vi trốn đóng BHXH thời kỳ này hầu như chưa có tiền lệ do thiếu điều luật quy định trực tiếp, do đó các phân tích chủ yếu dựa trên án lý thuyết, các vụ xử lý hành chính, khởi kiện dân sự và đối chiếu luật pháp quốc tế.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Nghiên cứu cơ chế truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm các tội danh trong lĩnh vực BHXH khi BLHS được sửa đổi;
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng các tội danh mới về BHXH sau khi được pháp điển hóa vào luật hình sự;
- Nghiên cứu chuyên sâu về các dạng hành vi trục lợi mới trong lĩnh vực bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế trong bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin và thanh toán điện tử.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước (Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, BHXH Việt Nam): Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học, cơ sở lý luận và thực tiễn trực tiếp phục vụ việc soạn thảo, bổ sung các tội danh về BHXH trong quá trình sửa đổi Bộ luật Hình sự (sau này được pháp điển hóa thành Điều 214, 215, 216 BLHS năm 2015) và sửa đổi Luật BHXH.
- Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án): Tài liệu tham khảo hữu ích trong việc nhận diện dấu hiệu pháp lý, phân biệt ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm để xử lý đúng người, đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm hoặc hình sự hóa quan hệ dân sự.
- Đối với giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành luật: Nguồn tài liệu học thuật chuyên khảo phục vụ giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về lý luận định tội danh trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội chuyên ngành.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội như thế nào?
Theo luận án, tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật BHXH, được quy định là tội phạm trong Bộ luật hình sự hoặc trong các luật liên quan đến BHXH, gây thiệt hại cho quỹ BHXH, cho quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia BHXH. Tại Việt Nam, do nguồn luật hình sự duy nhất là BLHS, các hành vi này phải được quy định trực tiếp trong BLHS.
2. Tại sao chế tài hành chính giai đoạn 2007–2012 không ngăn chặn được tình trạng trốn đóng bảo hiểm xã hội?
Văn bản luận án chỉ ra các nguyên nhân: (1) Mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa còn quá thấp (tăng từ 20 triệu đồng lên 30 triệu đồng theo Nghị định 86/2010/NĐ-CP) so với số tiền hàng tỷ đồng doanh nghiệp chiếm dụng được; (2) Lực lượng thanh tra chuyên ngành còn mỏng; (3) Biện pháp khởi kiện dân sự đòi nợ đọng gặp nhiều khó khăn ở khâu thi hành án, doanh nghiệp tìm cách tẩu tán tài sản hoặc không còn khả năng tài chính; (4) Thiếu chế tài hình sự mang tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất để răn đe người sử dụng lao động cố tình vi phạm.
3. Những tiêu chí nào được đề xuất để phân định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH?
Tác giả đề xuất 5 tiêu chí cụ thể:
- Mức độ thiệt hại về vật chất gây ra cho quỹ BHXH hoặc người lao động (tính bằng tiền);
- Thời gian trốn đóng, đóng thiếu hoặc chậm đóng BHXH;
- Số lượng người lao động bị xâm phạm quyền lợi BHXH;
- Số lượng hồ sơ có sai phạm (đối với nhóm hành vi lập hồ sơ khống hưởng chế độ);
- Tình tiết tái phạm hành chính (đã bị xử phạt hành chính về hành vi đó nhưng tiếp tục vi phạm).
4. Luận án đề xuất những nhóm tội danh riêng biệt nào cần bổ sung vào Bộ luật Hình sự?
Luận án đề xuất bổ sung 2 nhóm tội danh riêng biệt cơ bản:
- Nhóm tội vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH của người sử dụng lao động: Hành vi trốn đóng, không đóng đủ số người, không đóng đủ mức tiền lương, chậm đóng kéo dài, hoặc thu tiền đóng của người lao động nhưng không nộp cho quỹ.
- Nhóm tội vi phạm quy định về quyền thụ hưởng BHXH: Hành vi gian lận hồ sơ, làm giả chứng từ để chiếm đoạt tiền trợ cấp BHXH hoặc tiền khám chữa bệnh BHYT.
5. Hai phương án hoàn thiện lập pháp hình sự được luận án xây dựng gồm những gì?
- Phương án 1: Giữ nguyên truyền thống pháp lý Việt Nam (nguồn luật hình sự duy nhất là BLHS, chủ thể tội phạm là cá nhân) bằng cách bổ sung trực tiếp các điều luật cụ thể về tội phạm BHXH vào BLHS.
- Phương án 2: Đổi mới tư duy lập pháp bằng cách mở rộng nguồn luật (cho phép quy định tội phạm trong các luật chuyên ngành BHXH, BHYT) và mở rộng phạm vi chủ thể chịu trách nhiệm hình sự bao gồm cả pháp nhân đối với các tội danh trốn đóng BHXH.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Anh Thơ là công trình khoa học chuyên khảo đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống về tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội dưới góc độ luật hình sự. Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, bản chất pháp lý, các tiêu chí phân loại và phân định ranh giới giữa tội phạm với vi phạm hành chính trong hoạt động BHXH. Thông qua việc phân tích thực trạng nợ đọng, gian lận quỹ và những bất cập trong việc áp dụng các tội danh chung của BLHS năm 1999 giai đoạn 2005–2012, tác giả đã chứng minh tính cấp thiết của việc tội phạm hóa các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng và gian lận chế độ BHXH. Các đề xuất, giải pháp lập pháp và mô hình tội danh do luận án xây dựng mang giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, đóng góp trực tiếp vào quá trình hoàn thiện chính sách hình sự và hệ thống pháp luật an sinh xã hội tại Việt Nam.