MỞ ĐẦU Suy yếu (Frailty) là một hội chứng lão khoa, xảy ra do sự tích tụ của quá trình suy giảm chức năng nhiều hệ thống cơ quan trong cơ thể, biểu hiện là trạng thái dễ bị tổn thƣơng với các yếu tố về thể chất, xã hội và môi trƣờng. Suy yếu có thể dẫn đến nhiều hậu quả bất lợi cho ngƣời cao tuổi nhƣ suy giảm chức năng, suy giảm nhận thức, sống phụ thuộc, dễ té ngã, sử dụng quá nhiều thuốc cũng nhƣ kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ nhập viện và tử vong [8]. Bệnh thận mạn hiện nay đang là vấn đề sức khỏe của toàn thế giới với tỷ lệ hiện mắc và tần suất đang gia tăng, tiên lƣợng xấu và chi phí điều trị cao [22]. Theo số liệu năm 2018 tại Mỹ có khoảng 37 triệu ngƣời (tức 15% dân số) đƣợc chẩn đoán bệnh thận mạn.
Bệnh thận mạn thƣờng phổ biến ở ngƣời cao tuổi ≥ 65 tuổi chiếm tỉ lệ 38% [23].000 ngƣời ở Mỹ bắt đầu điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối và hơn 726.000 ngƣời thì có 2 ngƣời) đang chạy thận nhân tạo hoặc đang sống bằng ghép thận. Mỗi ngày, có hơn 240 bệnh nhân chạy thận nhân tạo tử vong [74]. Bệnh thận mạn là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tám tại Mỹ [54]. Trong năm 2018, chi phí điều trị dành cho bệnh nhân bệnh thận mạn là hơn 81,8 tỷ đô la và điều trị cho những ngƣời suy thận mạn giai đoạn cuối tốn thêm 49,2 tỷ đô la [84].
Tại Việt Nam chƣa có số liệu thống kê chính thức, song ƣớc tính có khoảng 5 triệu ngƣời bị suy thận và hàng năm có khoảng 8.000 ca bệnh mới. Chỉ tính riêng bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối cần lọc máu là khoảng 800.000 ngƣời, chiếm 0,1% dân số. Trung bình, bệnh nhân chạy thận nhân tạo tiêu tốn từ 100 - 150 triệu đồng trong một năm [2]. Đây không chỉ là gánh nặng cho gia đình ngƣời bệnh, mà còn là gánh nặng cho toàn xã hội.
Suy yếu rất thƣờng gặp ở bệnh nhân cao tuổi có bệnh thận mạn. Tỷ lệ suy yếu trong dân số ngƣời cao tuổi nói chung đƣợc báo cáo là 11% [31], trong khi đó tỷ lệ suy yếu ở những bệnh nhân có bệnh thận mạn trƣớc khi lọc máu là từ 16% [33]. Suy yếu có mối liên quan độc lập với các kết cục lâm sàng bất lợi trong tất cả các giai đoạn bệnh thận mạn, đặc biệt suy thận mạn giai đoạn cuối và bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Suy yếu ở bệnh nhân cao tuổi mắc suy thận mạn giai đoạn cuối có liên quan đến tăng tỷ lệ tàn tật, nhập viện và tử vong [42], [66].
Vì vậy, suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ là vấn đề cần đƣợc quan tâm và phát hiện sớm sẽ giúp ích cho việc điều trị tốt hơn, làm giảm chi phí điều trị, cải thiện tiên lƣợng và nâng cao chất lƣợng cuộc sống bệnh nhân [91], [96]. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đƣợc tiến hành nhằm xác định tỷ lệ suy yếu và các yếu tố liên quan đến suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ. Tuy nhiên ở Việt Nam cho đến nay, chúng tôi chƣa ghi nhận báo cáo số liệu về tỷ lệ suy yếu trên đối tƣợng bệnh nhân này. Vậy tỷ lệ suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ ở Việt Nam là bao nhiêu và có điểm gì đặc biệt cần lƣu ý? Nhận thấy tầm quan trọng và cần thiết của vấn đề và mong muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành “nghiên cứu tình trạng suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ”.
Chúng tôi mong rằng kết quả nghiên cứu này có thể góp thêm vào dữ liệu và hiểu biết về suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi ở Việt Nam và từ đó sẽ có chƣơng trình sàng lọc nhằm phát hiện sớm suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ, giúp cho việc điều trị bệnh nhân hiệu quả hơn. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu tình trạng suy yếu theo thang điểm suy yếu lâm sàng Clinical Frailty Scale trên bệnh nhân cao tuổi suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ ngoại trú tại Khoa Thận – Thận nhân tạo Bệnh viện Trƣng Vƣơng và Bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 06 năm 2021. Mục tiêu cụ thể 1. Xác định tỷ lệ suy yếu theo thang điểm suy yếu lâm sàng Clinical Frailty Scale trên bệnh nhân cao tuổi suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ.
Khảo sát các yếu tố liên quan đến suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ. Xác định mối liên quan giữa suy yếu với các biến cố nhập viện và tử vong trong thời gian theo dõi 6 tháng trên bệnh nhân cao tuổi suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa ngƣời cao tuổi Định nghĩa ngƣời cao tuổi (NCT) có sự khác nhau tùy theo giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội cũng nhƣ của các nền văn hoá khác nhau. Các nhà quản lý xã hội hiện nay dựa vào định nghĩa NCT để quy định tuổi hƣu và nhƣ vậy tuỳ theo chính sách xã hội mà có những định nghĩa khác nhau về NCT [4].
Năm 1980, Liên Hợp Quốc lấy tuổi 60 làm mốc qui ƣớc để phân định một lứa tuổi cần quan tâm về mặt sức khỏe, tổ chức xã hội, phòng bệnh và chữa bệnh: những ngƣời từ 60 tuổi trở lên là NCT [5]. Tại Việt Nam, Điều 2 của Luật NCT do Quốc Hội thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 đã nêu rõ: “NCT đƣợc quy định trong luật này là công dân nƣớc Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”. Luật NCT đã quy định trách nhiệm của các cơ quan tổ chức, gia đình và các cá nhân trong chăm sóc, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của NCT [5].2 Sự già hóa dân số Biến đổi cơ cấu tuổi dân số có tác động mạnh đến kinh tế và xã hội ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu. Một trong những xu hƣớng biến đổi mạnh mẽ gần đây là xu hƣớng già hóa dân số, trong đó NCT tăng cả về số lƣợng và tỷ lệ so với tổng dân số.
Già hóa dân số là hệ quả của ba xu hƣớng nhân khẩu học, đó là tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng nhanh [3]. Theo phân loại của Cowgill và Holmes (1970), khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến 9,9% tổng dân số thì dân số đó đƣợc coi là “già hóa”. Tƣơng tự, 10% - 19,9% gọi là dân số “già”; 20% - 29,9% gọi là dân số “rất già” và từ 30% trở lên gọi là dân số “siêu già”. Nhiều báo cáo của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế sử dụng cách phân loại này.
Một số báo cáo sử dụng tuổi từ 60 tuổi trở lên để. Dân số đƣợc coi là “già hóa” khi tỷ lệ ngƣời từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% dân số; tƣơng ứng cho “già”, “rất già” và “siêu già” là 20%, 30% và 35% [3]. Theo Vụ Kinh Tế và Xã Hội của Liên Hiệp Quốc (UNDESA, 2005), chỉ số già hóa đƣợc tính bằng tỷ số giữa số NCT và 100 ngƣời dƣới 15 tuổi (hay trẻ em). Khi chỉ số này lớn hơn 100 tức là dân số cao tuổi lớn hơn dân số trẻ em [83].
Tỷ số hỗ trợ tiềm năng là tỷ số giữa số ngƣời trong độ tuổi lao động với số NCT [3]. Dự báo dân số của Liên Hiệp Quốc (2015) cho thấy, dân số cao tuổi sẽ tăng từ 697 triệu ngƣời (hay 10% tổng dân số thế giới) vào năm 2010 lên gần 2 tỷ ngƣời (hay 23% tổng dân số thế giới) vào năm 2050. Dự báo cũng cho thấy già hóa dân số là một kịch bản sẽ xảy ra ở hầu hết các nƣớc đang phát triển, thậm chí tốc độ già hóa của các nƣớc này còn cao hơn cả tốc độ già hóa của các nƣớc phát triển. Già hóa dân số trong bối cảnh trình độ phát triển kinh tế và xã hội còn thấp là một thách thức vô cùng to lớn vì dân số già đòi hỏi chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc sức khỏe, hƣu trí và trợ cấp [83].3 Quá trình già hóa tại Việt Nam Số liệu thống kê dân số cho thấy Việt Nam đang ở cuối thời kỳ “quá độ dân số” với ba đặc trƣng rõ rệt, đó là tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng.
Kết quả là dân số trẻ em có xu hƣớng giảm nhanh, dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh và dân số cao tuổi cũng tăng. Năm 2014, chỉ số già hóa của dân số Việt Nam là 43,8% nếu tính cho dân số từ 60 tuổi trở lên và 30,3% nếu tính cho dân số từ 65 tuổi trở lên. Trong số 10 nƣớc ASEAN, chỉ số già hóa của Việt Nam chỉ thấp hơn 2 nƣớc Singapore và Thái lan. Dân số Việt Nam đang trong thời kỳ già hóa.
Quan hệ giữa chỉ số già hóa và mức thu nhập bình quân của các tỉnh và thành phố tuân theo hình chữ u ngƣợc. Các tỉnh, thành phố nghèo có chỉ số già hóa rất thấp [6]. Chỉ số già hóa (65+) của các nƣớc ASEAN, 2015 “Nguồn: Tổng Cục Thống Kê, 2016” [6] Chỉ số già hóa của dân số Việt Nam tăng rất mạnh trong vòng 35 năm qua. Dự báo cho thấy tỷ lệ NCT sẽ còn tăng nhanh trong thời gian tới.
Việt Nam ngày càng đối mặt với thách thức về già hóa dân số, bởi ở Việt Nam, rất nhiều ngƣời già vẫn phải phụ thuộc kinh tế vào ngƣời khác và hay mắc các bệnh mãn tính và cấp tính. Các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cần đƣợc xây dựng và sửa đổi cho phù hợp với xu hƣớng dân số ngày càng già đi. Nhà nƣớc cần có chiến lƣợc xây dựng cơ sở vật chất y tế để có thể đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe cho NCT [6]. Chỉ số già hóa ở Việt Nam, 1979-2014 „‟Nguồn: Tổng Cục Thống Kê, 2016‟‟ [6] .4 Đại cƣơng về suy yếu 1.1 Định nghĩa suy yếu Suy yếu là tình trạng dễ tổn thƣơng của cơ thể đối với các yếu tố stress do sự suy giảm chức năng của nhiều hệ thống sinh lý cơ thể.