ĐẶT VẤN ĐỀ Loãng xƣơng (LX) và thiếu cơ là hai bệnh liên quan với quá trình lão hóa dẫn đến tăng nguy cơ té ngã, giảm hoạt động chức năng, tăng tỷ lệ tàn phế và tử vong, giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời cao tuổi (NCT). LX đƣợc đặc trƣng bởi giảm khối lƣợng xƣơng và tăng nguy cơ gãy xƣơng [41]. Thiếu cơ là tình trạng giảm khối lƣợng cơ và sức mạnh của cơ diễn ra trên toàn cơ thể và tiến triển từ từ, hậu quả là nguy cơ chấn thƣơng do té ngã ngày càng tăng, tăng tỷ lệ tàn tật, giảm chất lƣợng cuộc sống và tăng tỷ lệ tử vong [18]. Thiếu cơ và LX là vấn đề sức khỏe cộng đồng ở ngƣời cao tuổi với tỷ lệ mắc cao và chi phí điều trị lớn [59], tốn hàng tỷ đồng cho việc chăm sóc sức khỏe mỗi năm.
Tỷ lệ thiếu cơ hiện nay vào khoảng 10% dân số thế giới, dao động từ 13% – 24% ở những ngƣời từ 65–70 tuổi và trên 50% ở những ngƣời trên 80 tuổi. Tại Mỹ ƣớc đoán chi phí chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân thiếu cơ lên tới hơn 18,5 tỷ đô la năm 2000 và chi phí cho thiếu cơ chiếm 1,5% tổng chi phí chăm sóc sức khỏe trong một năm [30]. Tổng chi phí hơn 19 tỷ đô la điều trị biến chứng gãy xƣơng do LX tại Mỹ [13]. Tại Việt Nam năm 2012 ngƣời cao tuổi chiếm 10,2% dân số, 20% số ngƣời trên 60 tuổi bị LX, 4,5 triệu ngƣời bị LX vào năm 2030 [4].
Do đó, biết đƣợc tỷ lệ và mối liên quan giữa LX và thiếu cơ ở ngƣời cao tuổi có vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Hơn nữa hậu quả gãy cổ xƣơng đùi (CXĐ), gãy xƣơng đốt sống do LX và sự suy giảm khối cơ đã đƣợc chứng minh có thể tiên lƣợng tỷ lệ tử vong ở NCT. Với xu hƣớng tuổi thọ ngày càng tăng thì gánh nặng của cả LX và thiếu cơ còn tiếp tục tăng. Loãng xƣơng và thiếu cơ có nhiều cơ chế bệnh sinh chung cả hệ thống và tại chỗ [21]: giảm hormone đồng hóa, tình trạng viêm mạn tính, giảm hoạt động.
Đặc biệt một số cytokine có nguồn gốc từ cơ có thể ảnh hƣởng trực tiếp. Thiếu cơ nhƣ một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với bệnh LX. Ngoài việc tăng nguy cơ té ngã, thiếu cơ cũng có thể làm giảm sức mạnh của xƣơng bằng cách giảm tải cơ học cho bộ xƣơng. Bên cạnh quá trình lão hóa, việc sử dụng chụp cắt lớp vi tính định lƣợng ngoại vi (pQCT) đã cho thấy thêm kích thƣớc xƣơng và sức mạnh xƣơng có liên quan đến kích thƣớc cơ bắp, và sức mạnh cơ bắp [20], [62].
Bệnh viện Thống Nhất là một trung tâm lão khoa lớn của cả nƣớc với số bệnh nhân lão khoa chiếm 2/3 trong tổng số bệnh nhân nội trú. Khoa Nội Theo Yêu Cầu là khoa có mặt bệnh đa dạng phong phú, tiếp nhận và điều trị cho hầu hết các bệnh lão khoa, nội khoa, ngƣời cao tuổi chiếm đa số. Những ngƣời này có yếu tố nguy cơ cao của LX và thiếu cơ nhƣ cao tuổi, nhiều bệnh lí, sử dụng nhiều thuốc, chế độ ăn kiêng, ít vận động. Bệnh viện có chƣơng trình giáo dục bệnh nhân phòng chống té ngã, dinh dƣỡng vận động tăng cƣờng sức mạnh cơ xƣơng của ngƣời cao tuổi.
Tuy nhiên kiến thức về LX và thiếu cơ vẫn còn chƣa đƣợc phổ biến rộng rãi đến bệnh nhân, vẫn có nhiều trƣờng hợp té gãy xẹp đốt sống, gãy CXĐ ngay khi nằm trong bệnh viện và tại nhà. Nghiên cứu đƣợc tiến hành nhằm đánh giá mức độ phổ biến và mối liên quan giữa cơ xƣơng của ngƣời cao tuổi nằm viện với mong muốn có sự quan tâm hơn nữa về tình trạng cơ xƣơng, dinh dƣỡng của bệnh nhân và thầy thuốc. Trên thế giới có một số nghiên cứu đánh mối liên quan của thiếu cơ với mật độ khoáng xƣơng (BMD) và tỷ lệ LX ở ngƣời cao tuổi. Tuy nhiên các nghiên cứu về thiếu cơ ở ngƣời cao tuổi ở Việt Nam còn ít và mối liên quan giữa thiếu cơ và mật độ xƣơng còn chƣa đƣợc quan tâm.
Nghiên cứu mối liên quan giữa thiếu cơ và LX để có các chiến lƣợc hiệu quả hơn trong việc phòng chống và điều trị LX và thiếu cơ, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời cao tuổi. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Khảo sát tỷ lệ thiếu cơ và mối liên quan với tuổi, giới, BMI, dinh dƣỡng, bệnh nội khoa ở bệnh nhân cao tuổi. Khảo sát mật độ khoáng xƣơng và tỷ lệ loãng xƣơng ở bệnh nhân cao tuổi.
Xác định mối liên quan giữa thiếu cơ với mật độ xƣơng và tỷ lệ loãng xƣơng ở bệnh nhân cao tuổi. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa Irwin Rosenberg đã lần đầu tiên định nghĩa thiếu cơ vào năm 1989, ông mô tả đó là tình trạng giảm khối lƣợng cơ liên quan đến tuổi, thƣờng gặp nhất trong cộng đồng ngƣời cao tuổi [70]. Quá trình mất khối cơ đáng kể và không chủ ý này đóng vai trò quan trọng trong việc giảm các hoạt động chức năng ở ngƣời cao tuổi.
Từ sau năm 1989, rất nhiều định nghĩa khác về thiếu cơ đã xuất hiện do các nhà khoa học có hiểu biết sâu sắc và chính xác hơn về sự biến đổi các thành phần trong cơ thể khi chúng ta già đi nhờ vào các phƣơng tiện máy móc hiện đại. Mặc dù vậy, hiện nay vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất nào đƣợc chấp thuận trên toàn thế giới. Một trong những định nghĩa đƣợc chấp nhận nhiều nhất hiện nay đó là đồng thuận của Hội thiếu cơ ở ngƣời cao tuổi châu Âu (EWGSOP): Thiếu cơ là tình trạng giảm khối lƣợng cơ và sức mạnh của cơ diễn ra trên toàn cơ thể và tiến triển từ từ, hậu quả mang lại là làm tăng tỷ lệ tàn tật, giảm chất lƣợng cuộc sống và tăng tỷ lệ tử vong [18]. Dịch tễ [49] Thiếu cơ ảnh hƣởng đến hơn 50 triệu ngƣời trên toàn thế giới và dự kiến sẽ ảnh hƣởng đến 200 triệu ngƣời trong 40 năm tới.
Với sự gia tăng tỷ lệ ngƣời cao tuổi trên thế giới, thiếu cơ sẽ ngày càng phổ biến và trở thành một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng hàng đầu của nhân loại. Dựa vào một nghiên cứu tổng quan hệ thống các tác giả ƣớc tính đƣợc tỷ lệ thiếu cơ hiện nay vào khoảng 10% dân số thế giới. Tỷ lệ thiếu cơ dao động từ 13 – 24% ở. 5 những ngƣời từ 65 – 70 tuổi và trên 50% ở những ngƣời trên 80 tuổi.
Ƣớc tính ở tuổi 80 khối lƣợng cơ giảm 40% so với tuổi 20 [10]. Tỷ lệ thiếu cơ ở hai giới trong các nghiên cứu tổng quan hệ thống là tƣơng đối bằng nhau. Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy giảm khối cơ ở nam cao hơn so với ở nữ do đó tỷ lệ thiếu cơ lớn nhất là ở nam giới lớn hơn 80 tuổi, trong khi đó phụ nữ ở cùng độ tuổi này chỉ có 43,8%. Ngƣợc lại, một số nghiên cứu cho thấy ở độ tuổi từ 60 – 80, tỷ lệ thiếu cơ ở phụ nữ cao hơn nam giới.
Nguyên nhân có thể là do các quá trình thay đổi về nội tiết và ngoại tiết trong cơ thể ảnh hƣởng lớn đến khối lƣợng và chất lƣợng cơ. Trong độ tuổi 60 – 70 thì những quá trình thay đổi về nội ngoại tiết, đặc biệt là các hormone sinh dục diễn ra ở nam giới chậm hơn so với nữ giới nên làm tăng tỷ lệ thiếu cơ ở nữ nhiều hơn so với nam. Khi bƣớc qua độ tuổi 80, hormone sinh dục nam giới testosterone lại giảm một cách nhanh chóng làm cho tỷ lệ thiếu cơ nam giới tăng cao hơn nữ. Ngoài ra tỷ lệ thiếu cơ còn phụ thuộc vào phƣơng pháp đo khối lƣợng cơ.
Hai phƣơng pháp thƣờng đƣợc dùng để đo khối lƣợng cơ trong các nghiên cứu về dịch tễ là phân tích trở kháng điện sinh học (BIA – Bioimpedance analysis) và phƣơng pháp hấp phụ tia X năng lƣợng kép (DXA – Dual – Energy X – ray Absorptionmetry). Phân loại nguyên nhân [18] Thiếu cơ là tình trạng có rất nhiều nguyên nhân và dẫn tới nhiều hậu quả khác nhau. Cũng giống nhƣ LX và sa sút trí tuệ, thiếu cơ chủ yếu gặp ở ngƣời cao tuổi. Ở một số ngƣời, thiếu cơ có thể chỉ có một nguyên nhân và dễ dàng xác định đƣợc.
Tuy nhiên trong phần lớn những trƣờng hợp còn lại, thiếu cơ thƣờng do nhiều nguyên nhân kết hợp với nhau và rất khó để xác định đâu là nguyên nhân quan trọng hơn. Vì vậy, phân loại thiếu cơ theo hai nhóm nguyên nhân là thiếu cơ nguyên phát và thứ phát sẽ giúp cho bác sĩ dễ. 6 áp dụng hơn trong thực hành lâm sàng. Thiếu cơ đƣợc xem là nguyên phát (hay còn gọi là liên quan tới tuổi) khi không có bất cứ nguyên nhân nào khác rõ ràng ngoài vấn đề về tuổi tác, trong khi đó thiếu cơ đƣợc phân nhóm thứ phát khi có một nguyên nhân rõ ràng trở lên.
Ở nhiều ngƣời, thiếu cơ thƣờng do sự kết hợp của nhiều nguyên nhân khác nhau, do vậy một số trƣờng hợp không thể phân định rõ ràng thiếu cơ này là nguyên phát hay thứ phát. 1: Phân loại các nguyên nhân của thiếu cơ Thiếu cơ nguyên phát Thiếu cơ liên quan tới tuổi Không có nguyên nhân nào khác ngoại trừ tuổi cao Thiếu cơ thứ phát Giảm vận động Do nằm lâu, lối sống tĩnh tại, sống trong môi trƣờng không có trọng lực Bệnh mạn tính Do sự suy yếu nặng của các cơ quan trong cơ thể (tim, phổi, gan, thận, não), viêm mạn tính, bệnh ác tính, bệnh nội tiết Dinh dƣỡng Chế độ ăn hằng ngày cung cấp không đủ năng lƣợng hoặc protein cho cơ thể, bất thƣờng về hấp thu chất dinh dƣỡng, bệnh về hệ tiêu hóa, dùng thuốc gây chán ăn “Nguồn: Cruz–Jentoft, 2010” [18] 1. Cách xác định khối lượng cơ [72] Có nhiều phƣơng pháp khác nhau để xác định khối lƣợng cơ. Giá cả, sự.
7 tiện lợi và dễ sử dụng là những yếu tố quyết định phƣơng pháp nào đƣợc lựa chọn trong thực hành lâm sàng và nghiên cứu. Công cụ chẩn đoán hình ảnh [53] Ba phƣơng pháp đƣợc dùng để đo khối lƣợng cơ là chụp cắt lớp vi tính (CT scan), chụp cộng hƣởng từ (MRI) và phƣơng pháp hấp phụ năng lƣợng tia X kép (DXA). CT và MRI đƣợc xem là phƣơng tiện chẩn đoán hình ảnh rất chính xác để phân biệt đƣợc khối mỡ và khối cơ với những loại mô khác trong cơ thể, điều này khiến cho CT và MRI trở thành tiêu chuẩn vàng trong việc ƣớc tính khối lƣợng cơ trong các nghiên cứu.