MỞ ĐẦU Loãng xương là bệnh lý đặc trưng bởi giảm khối lượng xương và tổn hại cấu trúc mô xương dẫn đến suy giảm sức mạnh xương và gia tăng nguy cơ gãy xương.1 Đây là một trong những bệnh lý chuyển hóa thường gặp nhất, gây tàn tật và tử vong hàng đầu ở người cao tuổi.2,3 Tại Việt Nam, 14% nữ giới và 5% nam giới từ 50 tuổi trở lên mắc loãng xương.4 Sự gia tăng tần suất mắc loãng xương đi kèm với gia tăng tỷ lệ gãy xương. Ước đoán đến năm 2050, tần suất gãy cổ xương đùi (CXĐ) trên thế giới sẽ tăng 3,1 lần ở nam và 2,4 lần ở nữ.5 Hệ thống chăm sóc sức khoẻ của Mỹ và các quốc gia khác đã chi khoảng 17 tỷ USD hàng năm cho gãy xương do loãng xương, dự đoán con số này sẽ tăng lên khoảng 50 tỷ USD vào năm 2040 và trở thành gánh nặng kinh tế lớn song hành cùng đột quỵ, ung thư vú, đái tháo đường, bệnh phổi mạn tính. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực nhiều hơn trong tầm soát và phát hiện sớm đối tượng có nguy cơ loãng xương để có chiến lược phòng ngừa và can thiệp kịp thời.2,6,7 Hiện nay, đo mật độ xương (MĐX) bằng phương pháp hấp phụ tia X năng lượng kép (Dual Energy X-ray Absorptiometry - DEXA) được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán loãng xương.8 Tuy nhiên, MĐX chỉ phản ánh khối lượng xương, không đánh giá được chất lượng xương và sự thay đổi MĐX rất chậm, đòi hỏi cần thời gian ít nhất 1 năm để thấy được sự thay đổi có ý nghĩa. Theo các khuyến cáo điều trị hiện tại, việc theo dõi MĐX nên được đánh giá sau 2 – 3 năm khởi trị, đây là một khó khăn trong việc chứng minh hiệu quả điều trị cho bệnh nhân để giúp tăng tuân thủ và có niềm tin gắn bó với điều trị lâu dài.9,10 Trong khi đó, nồng độ dấu ấn chu chuyển xương phản ánh được chất lượng xương và có sự thay đổi sau điều trị nhanh hơn.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng nồng độ dấu ấn chu chuyển xương có mối tương quan với MĐX và có vai trò trong tiên đoán loãng xương, đánh giá nguy cơ gãy xương cũng như theo dõi hiệu quả điều trị loãng xương. Trên các đối tượng phụ nữ loãng xương, Alendronate đã được chứng minh là thuốc có. 2 hiệu quả làm giảm nồng độ dấu ấn chu chuyển xương, giảm nguy cơ gãy xương tại cột sống, ngoài cột sống, chi phí điều trị phù hợp và được chỉ định phổ biến.11-14 Kết quả các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng cho thấy mức độ giảm nồng độ dấu ấn chu chuyển xương sau điều trị Alendronate có liên quan chặt chẽ với giảm nguy cơ gãy xương.15-17 Trong những năm gần đây, sự thay đổi của nồng độ dấu ấn chu chuyển xương được sử dụng để chứng minh hiệu quả và đánh giá tuân thủ của bệnh nhân trong quá trình điều trị.18 Việc lựa chọn dấu ấn chu chuyển xương phụ thuộc vào chi phí, điều kiện cơ sở vật chất và bối cảnh lâm sàng của cơ sở y tế.16 Trên thực tế và áp dụng lâm sàng tại Việt Nam, Osteocalcin và Beta-CrossLaps (β-CTX) huyết thanh là hai dấu ấn chu chuyển xương được sử dụng phổ biến. Trong nước đã có các nghiên cứu thực hiện về việc khảo sát các dấu ấn chu chuyển xương và theo dõi sự thay đổi nồng độ dấu ấn chu chuyển xương sau khi điều trị bisphosphonate đường uống.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này thực hiện trên các đối tượng phụ nữ sau mãn kinh từ 46 – 88 tuổi, chưa tập trung hoàn toàn ở đối tượng phụ nữ cao tuổi với các thay đổi sinh lý cơ thể do quá trình lão hóa, tình trạng đa bệnh – đa thuốc và các hội chứng lão hóa khác cùng tồn tại nên sẽ có đặc thù riêng, việc thay đổi giá trị dấu ấn chu chuyển xương, sự tuân thủ điều trị và nguy cơ gãy xương có thể khác biệt; đây là một vấn đề cần được quan tâm để có những diễn giải hợp lý và có biện pháp can thiệp kịp thời. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Khảo sát nồng độ Osteocalcin và Beta-CrossLaps huyết thanh ở phụ nữ cao tuổi loãng xƣơng trƣớc và sau điều trị Alendronate”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát: Khảo sát nồng độ Osteocalcin và β-CTX huyết thanh ở phụ nữ cao tuổi loãng xương trước và sau điều trị Alendronate. Mục tiêu cụ thể: 1.
Đánh giá nồng độ Osteocalcin, β-CTX huyết thanh theo tình trạng có loãng xương, không loãng xương và mối tương quan với mật độ xương ở phụ nữ cao tuổi. Đánh giá giá trị của nồng độ Osteocalcin và β-CTX huyết thanh trong chẩn đoán loãng xương ở phụ nữ cao tuổi. Đánh giá đáp ứng điều trị loãng xương bằng Alendronate ở phụ nữ cao tuổi dựa trên ngưỡng thay đổi tối thiểu có ý nghĩa (LSC) và ngưỡng tham khảo ở phụ nữ tiền mãn kinh (RI). 4 C ƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Loãng xƣơng ở phụ nữ cao tuổi 1. Định nghĩa Loãng xương là một bệnh lý được đặc trưng bởi giảm khối xương, hư hỏng mô xương và các vi cấu trúc của xương, dẫn đến suy giảm sức mạnh của xương và tăng nguy cơ gãy xương. Sự hư hỏng tiến triển của xương xốp: sự suy giảm rõ rệt của xương xốp và mất liên kết các bè xương, không còn ở dạng mạng lưới (bên trái) Nguồn: Bartl (2017)20 1. Loãng xương nguyên phát Loãng xương được chia làm hai loại chính dựa trên đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa xương, bao gồm loãng xương nguyên phát và loãng xương thứ phát.19 Loãng xương nguyên phát được chia làm 02 típ: Loãng xương típ 1: còn được gọi là loãng xương ở phụ nữ mãn kinh, được gây ra do sự thiếu hụt estrogen, đây là yếu tố chính ảnh hưởng đến xương xốp; vì vậy phụ nữ mắc loãng xương nhiều hơn nam giới với tỷ lệ nam/nữ là 4/5,7.
Loại loãng xương này thường gặp ở phụ nữ từ 50 đến 60 tuổi, sau mãn kinh từ 5 – 15 năm. 5 Loãng xương típ 2: còn được gọi là loãng xương do lão hóa, liên quan đến mất khối lượng xương theo tuổi ở cả xương bè và xương đặc. Sinh lý học và cơ chế bệnh sinh loãng xương 1. Định hình cấu trúc và tái định hình cấu trúc 23 Xương trải qua hai quá trình định hình cấu trúc (modelling) và tái định hình cấu trúc (remodelling) với những cơ chế riêng biệt để biệt hóa các nhóm tế bào xương, giúp đạt được sự tạo thành xương và/hoặc làm mới xương.
Hai quá trình này phối hợp nhau trong sự phát triển xương để định dạng xương thích hợp, duy trì nồng độ huyết thanh của các ion, sửa chữa các vùng cấu trúc xương bị tổn thương. Định hình cấu trúc (modelling) là quá trình chu chuyển xương lúc tuổi vị thành niên; chức năng của quá trình này là tạo dáng, chiều dài và hình dạng cho xương. Trong giai đoạn định hình cấu trúc, MĐX gia tăng đến mức tối đa. Định hình cấu trúc xương diễn ra trên bề mặt xương; trong đó, quá trình tạo và phân hủy xương xảy ra một cách độc lập.
Khi xương đạt tới mức trưởng thành, quá trình định hình cấu trúc sẽ giảm rất nhiều. Tuy nhiên, quá trình định hình cấu trúc có thể xảy ra sau giai đoạn trưởng thành, ở những bệnh lý có sự thay đổi của lực tác dụng lên xương. Tái định hình cấu trúc (remodelling) là quy trình luôn xảy ra theo trình tự kích hoạt, hủy xương, và tạo xương, khác với định hình cấu trúc chỉ có tạo xương hoặc hủy xương ở một vị trí. Tái định hình cấu trúc có chức năng phân hủy những mảng xương cũ hay xương bị tổn hại và thay thế bằng những mảng xương mới.
Quá trình tái định hình cấu trúc diễn ra liên tục (suốt đời), và 25% lượng xương xốp và 5% lượng xương đặc có thể được thay đổi trong vòng một năm. Xương liên tục được sửa chữa tại các vị trí riêng rẽ trong bộ xương để duy trì tính toàn vẹn của mô xương; trong quá trình này, xương cũ được tái hấp thu bởi các tế bào hủy xương và thay thế bằng các osteoid mới được tạo ra bởi nguyên bào xương. Đầu tiên, các tế bào hủy xương được kích hoạt, giai đoạn hủy xương mất. Tiếp theo sau giai đoạn hủy xương, các tế bào giống đại thực bào được tìm thấy tại khu vực tái mô hình trong giai đoạn trung gian hoặc đảo ngược.
Sau đó, tiền nguyên bào xương được huy động, tăng sinh và biệt hóa thành các nguyên bào xương trước khi tiết các chất nền xương mới. Các chất nền xương sau đó được khoáng hóa để trở thành các xương mới và quá trình tái mô hình được hoàn thành. Quá trình tái mô hình Nguồn: University of York (2016)24 1. Cơ chế bệnh sinh Quá trình t o xƣơng (bone formation) và hủy xƣơng (bone resorption) diễn ra theo cơ chế thay xương cũ bằng xương mới, đây là một chu trình xảy ra liên tục giúp xương luôn được đổi mới gọi là chu chuyển xương.
Chu chuyển xương luôn được hệ thống sinh học kiểm soát bao gồm các tế bào xương, hormones (PTH, estrogen,.), vitamin D, steroids, cyctokins, các yếu tố tăng trưởng. Trong điều kiện sinh lý tối ưu, quá trình hủy xương mất khoảng 10 ngày và quá trình tạo xương mất khoảng 3 tháng. Gần 20% bộ xương được thay thế thông qua quá trình tái tạo xương hàng năm.25 Bình thường ở người lớn hai quá trình này được duy trì một cách cân bằng; tuy nhiên ở người cao tuổi, tế bào hủy xương hoạt động quá mức, quá trình. 7 hủy xương cao hơn tạo xương dẫn đến giảm khối lượng xương theo thời gian, đặc biệt đối với phụ nữ ở giai đoạn mãn kinh dẫn đến loãng xương.
Đặc điểm loãng xương ở người cao tuổi Ở người cao tuổi, quá trình tạo xương không theo kịp tốc độ của quá trình hủy xương dẫn đến hậu quả là các vị trí xương bị hủy không được lấp đầy tạo nên các điểm xương yếu và gãy nhỏ trong cấu trúc của xương xốp. Xương ở người cao tuổi tuy ít thay đổi về kích thước nhưng thay đổi vi cấu trúc, sự thay đổi ngày càng rõ rệt và nặng dần theo tuổi, liên quan đến nhiều yếu tố sinh lý và bệnh lý của người cao tuổi bao gồm sự lão hóa của các tế bào tạo xương (osteoblast), sự hấp thu calcium ở ruột bị hạn chế, sự suy giảm tất yếu các hormone sinh dục. Người cao tuổi ít hoạt động thể lực, ít hoạt động ngoài trời (các tiền vitamin D không trở thành vitamin D nên ảnh hưởng đến việc hấp thu calcium).