Khóa luận tốt nghiệp điều tra tình trạng và phân bố của loài cá cóc tam đảo paramesotriton deloustali trên địa bàn xã đại đình vƣờn quốc gia tam đảo

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp điều tra tình trạng và phân bố của loài cá cóc tam đảo paramesotriton deloustali trên, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

55
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình trạng và phân bố cá cóc tam đảo Paramesotriton deloustali

Cá cóc tam đảo (Paramesotriton deloustali) là một loài đặc hữu của Việt Nam, được tìm thấy chủ yếu tại Vườn Quốc gia Tam Đảo. Loài này được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam với tình trạng bảo tồn nghiêm ngặt. Nghiên cứu về tình trạng và phân bố của loài cá này là rất cần thiết để bảo tồn và phát triển bền vững. Việc hiểu rõ về môi trường sống và các yếu tố ảnh hưởng đến quần thể cá cóc tam đảo sẽ giúp đưa ra các giải pháp bảo tồn hiệu quả.

1.1. Đặc điểm sinh học của cá cóc tam đảo

Cá cóc tam đảo có thân hình thuôn dài, da sần sùi và có màu sắc đặc trưng. Loài này sống chủ yếu ở các suối trên độ cao từ 600 đến 1900m. Thức ăn của chúng chủ yếu là côn trùng và ấu trùng. Đặc biệt, cá cóc tam đảo có khả năng sinh sản vào mùa đông và đầu xuân.

1.2. Phân bố địa lý của cá cóc tam đảo

Cá cóc tam đảo phân bố chủ yếu tại các suối ở dãy Tam Đảo, trải dài qua các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Vĩnh Phúc. Sự phân bố của loài này còn được ghi nhận tại một số khu vực khác như Bắc Kạn và Lào Cai.

II. Vấn đề và thách thức trong bảo tồn cá cóc tam đảo

Mặc dù cá cóc tam đảo là loài đặc hữu và có giá trị sinh học cao, nhưng hiện nay chúng đang đối mặt với nhiều thách thức. Các yếu tố như biến đổi khí hậu, mất môi trường sống và săn bắt trái phép đang đe dọa sự tồn tại của loài này. Việc nhận diện và đánh giá các mối đe dọa là rất quan trọng để có thể đưa ra các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

2.1. Nguy cơ từ biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đã làm thay đổi môi trường sống của cá cóc tam đảo, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của chúng. Nhiệt độ tăng cao và lượng mưa không ổn định có thể làm giảm số lượng cá cóc trong tự nhiên.

2.2. Tác động của con người đến môi trường sống

Hoạt động khai thác rừng và xây dựng cơ sở hạ tầng đã làm giảm diện tích môi trường sống của cá cóc tam đảo. Sự xâm lấn của các loài ngoại lai cũng là một yếu tố gây áp lực lên quần thể cá cóc.

III. Phương pháp nghiên cứu tình trạng cá cóc tam đảo

Để nghiên cứu tình trạng và phân bố của cá cóc tam đảo, các phương pháp điều tra thực địa và phỏng vấn đã được áp dụng. Việc thu thập dữ liệu từ các khu vực khác nhau trong Vườn Quốc gia Tam Đảo giúp xác định mật độ quần thể và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của loài này.

3.1. Phương pháp điều tra thực địa

Phương pháp điều tra thực địa bao gồm việc khảo sát các suối và khu vực sống của cá cóc tam đảo. Các nhà nghiên cứu đã ghi nhận số lượng cá cóc và các đặc điểm môi trường sống của chúng.

3.2. Phương pháp phỏng vấn cộng đồng địa phương

Phỏng vấn cộng đồng địa phương giúp thu thập thông tin về sự xuất hiện của cá cóc tam đảo và các hoạt động bảo tồn mà người dân thực hiện. Điều này cũng giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của loài cá này.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy cá cóc tam đảo vẫn tồn tại ở một số khu vực trong Vườn Quốc gia Tam Đảo, nhưng số lượng đang giảm sút. Các giải pháp bảo tồn cần được triển khai ngay để bảo vệ loài này. Việc áp dụng các biện pháp quản lý và bảo tồn sẽ giúp duy trì quần thể cá cóc tam đảo trong tương lai.

4.1. Đánh giá mật độ quần thể cá cóc tam đảo

Mật độ quần thể cá cóc tam đảo được xác định thông qua các cuộc khảo sát thực địa. Kết quả cho thấy mật độ cá cóc ở một số khu vực vẫn còn cao, nhưng có xu hướng giảm ở những nơi bị tác động mạnh từ con người.

4.2. Đề xuất giải pháp bảo tồn

Các giải pháp bảo tồn bao gồm việc bảo vệ môi trường sống, tăng cường quản lý và giám sát hoạt động khai thác tài nguyên. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn cá cóc tam đảo.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của cá cóc tam đảo

Cá cóc tam đảo là một loài đặc hữu quý hiếm cần được bảo tồn. Nghiên cứu tình trạng và phân bố của loài này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về giá trị sinh học mà còn góp phần vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Tam Đảo. Tương lai của cá cóc tam đảo phụ thuộc vào các biện pháp bảo tồn hiệu quả và sự tham gia của cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn cá cóc tam đảo

Bảo tồn cá cóc tam đảo không chỉ là bảo vệ một loài động vật mà còn là bảo vệ hệ sinh thái nơi chúng sống. Việc duy trì sự đa dạng sinh học là rất quan trọng cho sự phát triển bền vững.

5.2. Triển vọng nghiên cứu và bảo tồn trong tương lai

Nghiên cứu và bảo tồn cá cóc tam đảo cần được tiếp tục để hiểu rõ hơn về sinh thái học và các yếu tố ảnh hưởng đến quần thể của chúng. Các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng cũng cần được triển khai để hỗ trợ công tác bảo tồn.

23/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp điều tra tình trạng và phân bố của loài cá cóc tam đảo paramesotriton deloustali trên địa bàn xã đại đình vƣờn quốc gia tam đảo

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU Cá cóc tam đảo (Paramesotriton deloustali Bourret, 1934) thuộc Họ Cá cóc (Salamandridae), Bộ có đuôi (Caudata), Lớp lƣỡng cƣ. Cá cóc tam đảo đƣợc liệt kê vào danh sách Sách Đỏ Việt Nam (2007) (nhóm EN) và thuộc nhóm IIB động vật đƣợc bảo vệ trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP. Loài Cá cóc tam đảo phân bố tại các suối trên dãy Tam Đảo nằm giữa 3 tỉnh: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, khu vực Ba Bể tỉnh Bắc Kạn 3 quần thể cá cóc ở Chợ Đồn (Bắc Kạn), Xín Mần (Hà Giang), Văn Bàn (Lào Cai) (Việt Nam) (IUCN, 2017) và phân bố ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) (Zang và cs, 2017); chúng phân bố ở độ cao 600-1900m (IUCN SSC Amphibian Specialist Group, 2017). Vƣờn quốc gia Tam đảo đƣợc chính thức thành lập ngày 15/6/1996 với tổng diện tích là 36.883 ha ranh giới từ độ cao 100m trở lên vòng quanh núi Tam Đảo và trụ sở văn phòng vƣờn đặt tại km13 (trên quốc lộ 2B từ thành phố Vĩnh Yên đi khu nghỉ mát Tam Đảo) thuộc xã Hồ Sơn - Tam Đảo - Vĩnh Phúc.

Đây là kho tài nguyên quý giá, nơi lƣu giữ sự đa dạng sinh học cao với rất nhiều loài động, thực vật đặc hữu quý hiếm, là nơi dự trữ, bảo tồn và phục hồi các nguồn gen phục vụ cho nghiên cứu khoa học, học tập cho các nhà khoa học và sinh viên trong nƣớc cũng nhƣ quốc tế. Trong tình trạng suy giảm kích thƣớc quần thể loài Cá cóc tam đảo do các tác nhân con ngƣời và biến đổi khí hậu, do đó việc nghiên cứu về tình trạng và phân bố của loài này trên địa bàn VQG Tam Đảo là hết sức quan trọng, góp phần bảo tồn và phát triển loài một cách bền vững. Tuy nhiên, hiện nay có khá ít các nghiên cứu về hiện trạng và phân bố của loài này trên VQG Tam Đảo. Nghiên cứu về hiện trạng và phân bố của loài này có nhiều khả năng sẽ phát hiện thêm đƣợc nhiều điểm xuất hiện mới của loài này trên địa bàn VQG Tam Đảo, qua đó có thể giúp cho việc khoanh vùng phân bố của loài trên địa bàn VQG Tam Đảo đƣợc dễ dàng hơn.

Trên cơ sở đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra tình trạng và phân bố của loài Cá cóc Tam Đảo (Paramesotriton deloustali Bourret, 1934) trên địa bàn xã Đại Đình thuộc Vƣờn quốc gia Tam Đảo” 1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm họ Cá cóc, Cá cóc tam đảo. Họ cá cóc (Salamandridae) Họ Cá cóc (Salamandridae) hiện có 77 loài thuộc 20 giống (AmphibiaWeb, 2018), là họ lƣỡng cƣ còn giữ đuôi khi đến độ trƣởng thành. Chúng đƣợc nhà động vật học ngƣời Đức Georg August Goldfuss (1782-1848) mô tả lần đầu vào năm 1820.

Họ Cá cóc khá đa dạng, gồm các loài sống dƣới nƣớc lẫn trên cạn và phân bố ở nhiều khu vực thuộc châu Âu, châu Phi, Bắc và Trung Mỹ, châu Á trong đó có 5 loài thuộc 2 giống ghi nhận ở Việt Nam. Họ Cá cóc có đặc điểm là có đốt sống lõm hai mặt, có mí mắt cử động. Tất cả các loài trong họ này tạo ra chất độc thông qua da của chúng.Vòng đời phát triển của Cá cóc qua hai giai đoạn: giai đoạn 1 – trứng nở trong nƣớc thành nòng nọc có nang để thở, nang này sẽ tiêu biến khi nòng nọc phát triển thành cá con; giai đoạn 2 – sau quá trình biến thái ở dƣới nƣớc, nòng nọc phát triển thành con trƣởng thành vừa sống đƣợc ở nƣớc vừa sống dƣợc trên cạn (An Thị Hằng, 2011). Họ Cá cóc có thân thuôn dài, có 4 chân, chân trƣớc 4 ngón, chân sau 5 ngón, đuôi dẹt bên, dài thân trung bình 50mm.

Đầu Cá cóc dẹt, mõm ngắn, tày gần nhƣ vuông, da sần sùi, gờ sống lƣng nổi rõ. Mỗi bên sƣờn có một hang củ lồi, mỗi củ tƣơng ứng với đầu mỗi xƣơng sƣờn. Toàn thân xám thẫm (nhiều cá thể gần nhƣ đen), bụng sáng hơn lƣng, con non có màu vàng giống màu đất sét. Đầu các chi, mép dƣới đuôi, viền lỗ hậu mô có màu đỏ cam (các củ lồi bên sƣờn và mép trên đuôi ở nhiều cá thể cũng có màu đỏ cam (Sách Đỏ Việt Nam, 2007).

Họ Cá cóc sống ở các vực nƣớc (ao, vũng…) có nhiều bùn và lá mục, trong rừng kín tán trên núi. Thức ăn gồm côn trùng và ấu trùng của chúng, giun đất, nhện, sên và những loài không xƣơng sống nhỏ khác. Một số đặc điểm phân biệt giữa Cá cóc tam đảo và các loài cá cóc khác. Cá cóc tam đảo: Lƣng có màu nâu đen, Cá cóc việt nam: Thân bụng màu đỏ có những đƣờng xám đen nối với có màu xám đầu các chi, mép nhau tạo thành hình mạng vân đỏ, da Cá cóc tam dƣới đuôi, viền hậu môn có đảo có nhiều mụn xù xì và tiết chất nhầy, những màu đỏ cam nổi bật, 2 bên mụn cóc này thƣờng làm thành dãy dọc sống sƣờn có nốt sần.

Cá cóc việt nam Hình 1. Cá cóc tam đảo Tylototriton vietnamensis Paramesotriton deloustali (Nguyễn Quảng Trƣờng). (Ngô Tuấn Sơn) Cá cóc ziegleri: Chiều dài mút mõm hậu môn 54 Cá cóc mẫu sơn: toàn thân - 68mm ở con đực, 71mm ở con cái , da nhảm có màu đen tuyền, da đƣợc với các đầu các nốt sần rất nhỏ, gờ xƣơng trên bao phủ các nốt sần nhỏ, 2 đầu rõ rệt, gờ da giữa sống lƣng nổi rõ, tạo bởi bên sƣờn có gai nổi rõ, đần một hàng các nốt sần lớn, nốt sần bên sƣờn rõ, các mốt có màu cam. vƣợt xa nhau khi gập dọc thân, đuôi mảnh, mặt trên lƣng màu nâu sẫm hoặc đen, nốt sần bên sƣờn, mút ngón tay và ngón chân màu cam, củ bàn, vùng hậu môn và mép dƣới đuôi màu cam.

Cá cóc mẫu sơn Tylototriton verrucesus Hình 1. Cá cóc ziegleri Tylototriton ziegleri (Nguyễn Quảng Trƣờng). Cá cóc lào: có hình dạng giống thằn lằn, dài khoảng Cá cóc gờ sọ mảnh: có chiều 8 - 11cm, đầu rộng, tuyến mang tai gồ cao, phình dài cơ thể từ 61 đến 63 mm ở rộng, giữa sống lƣng có gì nổi kéo dài tiếp nối với con đực, 65 - 74 mm ở con cái. đuôi hai bên sƣờn có nhiều khối u tròn lồi khá lớn Chúng có nốt sần lớn dọc hai chạy từ chi trƣớc đến gốc đuôi.

Gần nhƣ toàn bộ bên gờ lƣng, da nhám với nối thân có những nốt sần nhỏ, mặt dƣới bụng có những với các nốt sần nhỏ. Chân của nếp nhăn nằm ngang chi trƣớc có 4 ngón, chi sau có loài dài và nhỏ, đuôi mỏng. Mặt dƣới các ngón và riềm phía dƣới của đầu, các chi, gờ sống lƣng, các đuôi có màu cam. Màu nâu sẫm chiếm toàn bộ cơ mụn lớn ở dọc gờ lƣng bên và thể của Cá cóc.

Đuôi dẹp theo chiều thẳng đứng, phần đuôi của chúng có, màu da mút đuôi nhọn. cam, mặt bụng màu nâu hoặc đen nâu, các phần còn lại của cơ thể có màu đen thẫm. Cá cóc sần lào Tylototriton notiali Hình 1. Cá cóc gờ sọ mảnh Tylototriton anguliceps (Đậu Quang Vinh).

Cá cóc tam đảo có thân hình thuôn dài, hơi dẹt từ trên xuống, có đuôi dài dẹp bên, mút đuôi tròn; da có nhiều mụn sù sì tiết chất nhầy; lƣng có màu xám đen với hai gờ nổi sần sùi chạy dọc hai bên và một gờ giữa sống lƣng; bụng màu đỏ da cam với những đƣờng xám đen nối với nhau nhƣ hình mạng lƣới. Chiều dài thân tới 92mm, chiều dài đuôi tới 87mm. Con cái thƣờng lớn hơn con đực. Đặc biệt vào mùa sinh sản ở cá cóc đực có một dải xanh sáng chạy suốt hai bên mặt đuôi.

Mép đuôi thƣờng đỏ da cam, nhất là phần gần hậu môn. Cá cóc có 4 chi ngắn nhƣng khỏe, bò khá nhanh trên mặt đất. Trong nƣớc, cá cóc bơi chủ yếu bằng những uốn lƣợn của đuôi, chân áp sát thân mình (Nguyễn Văn Sáng và cs, 2005). - Đặc điểm sinh thái Chỉ sống ở suối trên độ cao 200 - 1000m.

Cá cóc là loài ăn tạp, thành phần thức ăn gồm các loài thảo mộc, côn trùng (ấu trùng và dạng trƣởng thành), trứng ếch nhái, ốc, nòng nọc, cá con, bùn. Cá cóc đẻ vào cuối đông đầu xuân (tháng 1 - 4). Sự thụ tinh của Cá cóc tam đảo là sự thụ tinh trong không hoàn toàn diễn ra trong môi trƣờng nƣớc. Ngoài tự nhiên, sau khi thụ tinh xong, cá cóc cái bò lên cạn đẻ trứng ở các đám lá mục, ẩm dƣới các tảng đá cách suối không xa.

Trong điều kiện nuôi chúng đẻ vào những giá thể có sẵn trong bể (rong, đá. Cá cóc cái đẻ nhiều lần trong một vụ, đẻ cả ban ngày và ban đêm, mỗi lần đẻ với số lƣợng trứng rất khác nhau (từ 2 - 36 quả). Tỷ lệ nở của trứng và sự phát triển của nòng nọc phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ môi trƣờng, nhiệt độ thích hợp nhất từ 17°C- 27°C. Nòng nọc có màu đen, có mang ngoài màu đỏ hồng ở hai bên mang tai, bụng sáng và sau quãng 2 tháng ngả vàng và xuất hiện những mạng lƣới đen nhƣ họa tiết ở bụng con trƣởng thành.

Mang ngoài tiêu 5 dần và biến mất ở tháng 4 - 5. Ở giai đoạn này cá cóc thƣờng bò lên cạn (trong tự nhiên giai đoạn này vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu kỹ). - Tình trạng bảo tồn Diện tích phân bố <5000 km2. Cá cóc bị săn bắt nhiều nhất vào các năm 1990 - 1991, số lƣợng suy giảm trên 50% trong 10 năm gân đây, hiện còn ít trong thiên nhiên.

Phân hạng: EN B1+2b,c,d. Đƣợc đƣa vào Sách Đỏ Việt Nam 1992 (tái bản 2000) ở bậc E, phụ lục IB Nghị định 32/2002/NĐ-CP, bậc VU (Danh Lục Đỏ IUCN/ 2000). Vƣờn quốc gia Tam Đảo đƣợc thành lập 1996 trong mục tiêu có đề cập đến bảo vệ loài Cá cóc tam đảo. Cần đƣợc bảo vệ tốt, chống săn bắt bừa bãi, nghiên cứu gây nuôi nhân tạo.

- Phân bố ở Việt Nam: Đây là loài đặc hữu của Việt Nam và chỉ tìm thấy một số khu vực nhƣ: Tây Thiên, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Văn Bàn (Lào Cai), Chợ Đồn (Bắc Kạn), Tam Thanh (Lạng Sơn), Đồng Sơn, Kỳ Thƣợng (Quảng Ninh), Thƣợng Tiến (Hòa Bình). Một số nghiên cứu ở ngoài nƣớc Công trình nghiên cứu kỹ lƣỡng nhất về Bò sát, ếch nhái do Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật phối hợp với Viện Động vật Xanh Petecbua (Nga), Bảo tàng Hoàng gia Ontario (Canada), Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ. Chƣơng trình hợp tác này đƣợc tiến hành trong 2 giai đoạn 1993 - 1997 và 1999-2000 ở VQG Tam Đảo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ