chương 1 của luận án sẽ đề cập đến những vấn đề sau: 1. Một số cách hiểu về tính thái trong ngôn ngữ 2. Tính thái hoá câu 3. Vấn đề tính thái trong quan hệ với kết học, nghĩa học và dụng học.
Các phương tiện biểu thị tính thái trong ngôn ngữ. Vấn đề phân loại tính thái. Tính thái nhận thức và các yếu tố TTNT trong câu 1. Một số cách hiểu về tình thái trong ngôn ngữ 1.
Khái niệm tình thái Tính thái câu nói chung và khái niệm TTNT nói riêng đã được nhiều nhà ngôn ngữ học bàn đến trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ và giao tiếp. Tuy nhiên, cách hiểu về khái niệm tính thái chưa được nhất quán giữa các nhà nghiên cứu khác nhau. - Ở phương Tây, các nhà ngôn ngữ học đều coi tính thái thuộc phạm trù ngữ nghĩa, khác với phạm trù ngữ pháp. Nhưng tính thái không phải là thứ ngữ nghĩa của nghĩa học hiểu theo truyền thống, mà là một phạm trù ý niệm (catégorie conceptuelle) trong sự biểu đạt câu nói.
Dictionnaire de linguistique et des sciences du langage định nghĩa “ tình thái xác định thực trạng của câu : câu xác nhận, câu mệnh lệnh hay câu nghi vấn.Bally, trong sự phân tích nghĩa của câu, cần phải phân biệt hai yếu tố khác nhau: " Dictum" và "Modus". Dictum (sự tình thuần tuý) được xem ngoài sự can thiệp của người nói. Modus ( tình thái) là một chuổi yếu tố chỉ ra rằng sự tình được xem xét như hiện thực hay phi hiện thực, mong muốn hay không mong muốn, được chấp nhận một cách vui vẻ hay luyến tiếc từ người nói hoặc từ người khác. Như vậy toàn câu được làm rõ nét bằng một 6 (LUAN.viet TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet tình thái hiển ngôn (modalité apparente) hay hàm ẩn (implicite).
Các thức (modes) thuộc phạm trù ngữ pháp là một trong những phương tiện được sử dụng để diễn đạt tình thái. Tình thái câu cũng có thể là dạng câu chêm xen (une incise) hoặc dạng mệnh đề như “je crois(tôi tin), je crains que. Các trạng từ ( adverbes ) cũng thường đóng chức năng tình thái của câu. Dựa vào khái niệm tính thái của Ch.
Bally, như đã trìch dẫn trên đây, có thể phân tìch tình tính thái của câu như sau: Vì dụ: (1) Loan est venue. (Loan đã đến rồi.) (2) Je pense que Loan viendra. (Tôi nghĩ rằng Loan sẽ đến.) (3) Loan ne viendra jamais. (Loan sẽ không bao giờ đến.) Trong ba câu nói trên đây, nội dung cốt lõi của câu là sự việc được diễn tả bằng những yếu tố ngôn ngữ, đó là chủ ngữ “Loan” và vị ngữ “đến”.
Nội dung “Loan đến”, theo Charles Bally, được tách khỏi phần tính thái, tức phần chỉ thái độ của người nói được lồng trong nội dung này. Phần tính thái có mặt trong ba câu trên làm cho nội dung “Loan đến” mang sắc thái khác nhau. Ở câu (1) tính thái là sự việc đã được thừa nhận và đã xảy ra trên thực tế. Trong tiếng Pháp, tính thái này, thể hiện ở thời quá khứ và thức chỉ định (mode indicatif) được gắn với động từ “venir” (est venue).
Trong tiếng Việt, tính thái của câu (1) thể hiện ở các hư từ “đã”, “rồi” kèm theo với động từ, biểu đạt sự tính đã được khẳng định đã xảy ra trên thực tế. Vậy tính thái của câu (1) là tính thái hiện thực đã xảy ra trong thực tế. Ở câu (2) tính thái là một nhận định được kết hợp trong dạng câu ghép, bao gồm : Mệnh đề chình “Je pense” được kết hợp bằng động từ cảm nghĩ “penser” với chủ ngữ “Je”; tạo nên sắc thái chủ quan trong nhận thức. Đây là “ kiểu tình thái hoá câu nói bằng phương tiện từ vựng - ngữ pháp ’’.
Mệnh đề chình được ghép với mệnh đề phụ “que Loan viendra” làm cho NDMĐ giảm bớt tình khẳng định. Có nghĩa là việc “Loan sẽ đến” chỉ nằm trong tư duy của người nói và trên thực tế là chưa xảy ra. Câu nói biểu thị tính thái nhận định mang tình chủ quan về khả năng có thể xảy ra đối với nội dung “Loan sẽ đến”.viet TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet Ở câu (3) tính thái của câu được biểu đạt bằng sự kết hợp trạng ngữ phủ định “ ne. jamais” (không bao giờ) đánh dấu tính thái phủ định về sự tính “Loan đến”.
Tương ứng với tính thái này, của tiếng Việt, phụ ngữ “không bao giờ” cũng có tầm tác động vào cấu trúc NDMĐ của câu, biểu thị tính thái phủ định của hành động đến của Loan. Vậy cùng một nội dung là “Loan đến”, ba câu nói biểu đạt ba loại tính thái khác nhau. Câu (1) biểu thị tính thái khẳng định sự việc đã được thừa nhận là “Loan đến”. Câu (2) TTNT biểu đạt sự nhận định về một khả năng xảy ra trong tương lai mang tình chủ quan.
Câu (3) tính thái là sự phủ định không có thật trong thực tế. Cách nhín nhận tính thái câu như vậy, Ch. Bally cho rằng: ở phát ngôn bất kỳ đều có biểu hiện sự đối lập nội dung cái được nói đến (dictum) với sự đánh giá của cá nhân về sự việc được trính bày trong câu. Các nhà ngôn ngữ học sau Ch.
Bally về cơ bản chia sẻ quan điểm của ông. Trong số những nhà ngôn ngữ học này có Lyons (1977),(76 tr 425), palmer (1986) [77], Benveniste (1974) [84], Halliday (1989) [35], Caron (1989) [87], Charaudeau (1985) [88], Kerbrat. Cụ thể Lyons định nghĩa: "Tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị, hay sự tình mà mệnh đề đó miêu tả "[76 tr 425]. Trong cuốn "Mood and Modality", khi nghiên cứu khảo sát về tính thái, Palmer (1986) ghi nhận rằng "cách định nghĩa tình thái là "ý kiến hoặc thái độ " của người nói của Lyons tỏ ra là có hứa hẹn" [77 tr 2].
Dựa vào cơ sở phân tìch của các câu (1), (2), (3) trên đây, có thể nói rằng tính thái là đặc trưng cơ bản của cấu tạo câu. Đặc trưng này được thể hiện qua bốn vấn đề mà Palmer ( 1986) đã lưu ý khi nghiên cứu câu. - Thứ nhất phải xác định một phạm trù tình thái: Phạm trù ở đây là phạm trù ngữ nghĩa bao gồm tính tình thái, thái độ và quan niệm của người nói. - Thứ hai, về vấn đề các phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái, cần chú ý đến mức độ sử dụng các phương tiện biểu thị tình thái nhiều hay ít hoặc cách biểu hiện như thế nào.
Chẳng hạn như “thức” trong các ngôn ngữ biến hình là sự 8 (LUAN.viet TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet đánh dấu tình thái. Còn những ngôn ngữ khác có thể sử dụng hệ thống động từ tình thái hay các loại tiểu từ tình thái. - Thứ ba, tính chất qui ước của phương tiện biểu hiện tình thái: Không có quan hệ một đối một giữa hình thức biểu đạt và ý nghĩa tình thái. - Thứ tư, sự biểu hiện các phạm trù ngữ pháp như thời, số, ngôi và các thức trong các ngôn ngữ không hoàn toàn giống nhau.
Vì vậy không thể xem xét một cách máy móc về sự biểu hiện tính tình thái trong các ngôn ngữ. [ Phỏng theo77 tr 33] Vậy có thể nói rằng tính thái là phạm trù ngữ pháp - ngữ nghĩa biểu thị quan hệ của người nói với phát ngôn và quan hệ của nội dung phát ngôn với hiện thực khách quan. Trong cuốn “Dẫn luận ngữ pháp chức năng”, khi bàn đến một phán đoán Halliday cho rằng “Trong một nhận định, tình thái là sự thể hiện quan điểm của người nói” [35 tr 181]. Khi bàn đến tình phân cực, ông viết : “Tình thái liên quan đến khu vực ý nghĩa nằm giữa hai cực có và không - vị trí trung gian giữa cực khẳng định và cực phủ định.
Cái mà tình thái hàm chỉ một cách cụ thể hơn sẽ phụ thuộc vào chức năng lời nói cơ bản của cú.” [35 tr 560] Chẳng hạn trong tiếng Pháp, câu phán đoán về sự tính được phản ánh bằng các yếu tố và phương thức ngữ pháp sau : (4) Jacques est venu, peut - être. ( Có thể là Jaques đã đến.) Trong (4) yếu tố tính thái “peut - être” (có thể) tác động vào câu có thức chỉ định tạo nên tính thái khả năng xác suất hoặc có hoặc không, chỉ sự nhận định, thuộc tính thái xét đoán. Tác giả người Nga V. Bondarenko cho rằng "Tình thái là một phạm trù ngôn ngữ chỉ đặc điểm của các mối quan hệ khách quan được phản ánh trong nội dung của câu và chỉ ra mức độ của tính xác thực về nội dung của chính câu đó theo quan niệm của người nói ( tình thái chủ quan) " [dẫn theo 70 tr 48] Trong cuốn The Encyclopida of language and linguistics ( volume 5), Kiefer (1994) giải thìch cách hiểu tình tính thái của Ch.
Bally như sau : Một cách nhín khác về tính thái, đồng nhất nó với sự đánh giá của người nói đối 9 (LUAN.viet TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet với sự tính (. Vậy "Tình thái là thái độ tri nhận, tình cảm, hay niềm tin đối với một sự tình, từ góc độ nhìn nhận, đánh giá của người nói. Còn bản thân Kiefer thí hiểu tình tính thái như sau : " Thực chất của "tính tình thái" gồm trong việc tạo lập tính tương đối của hiệu lực các ý nghĩa câu với một tập hợp các thế giới có thể có" ( " The essence of " modality" consists in the relativisation of the validity of sentence meanings to a set of possible worlds ") [75, tr 2515]. - Ở Việt Nam, vấn đề tính thái đang được các nhà ngôn ngữ học quan tâm và có những khái niệm gần giống nhau giữa các nhà nghiên cứu.
Hoàng Tuệ định nghĩa: “Tình thái là một khái niệm trong sự phân tích theo cách nhìn tìm đến thái độ của người nói trong hoạt động phát ngôn, tức cũng là tìm đến tác động ngữ dụng. Tác động mà người nói muốn tạo ra ở người nghe trong thực tế hoạt động ngôn ngữ.” [67] Những kiểu phát biểu có ý nghĩa tương tự về khái niệm như trên đây đã được các tác giả Lê Quang Thiêm [62], Hoàng Phê [47], Hoàng Trọng Phiến [48], Cao Xuân Hạo [32], Đỗ Hữu Châu [16], Diệp Quang Ban [5], Phạm Hùng Việt [70], Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp [64], Nguyễn Ngọc Trâm [65] trính bày trong các tài liệu. Điểm qua một số định nghĩa và khái niệm về tính thái nêu trên, có thể nói rằng các nhà ngôn ngữ học hiện đại Đông - Tây đều nhận ra rằng tính thái là một phạm trù ý niệm chỉ thái độ tri nhận của chủ ngôn trong câu nói.