ĐẶT VẤN ĐỀ Thừa cân, béo phì ở trẻ em là những vấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu, đang đe dọa đến khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản ở nhiều quốc gia. Số trẻ em bị ảnh hưởng đang tăng lên ở mức báo động [38]. Trong 35 năm qua, đã có sự gia tăng gần 50% số trẻ em béo phì trên toàn thế giới [43]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, có hơn 340 triệu trẻ em và thanh thiếu niên từ 5 đến 19 tuổi bị thừa cân và béo phì vào năm 2016 [48].
Trẻ béo phì được gọi là “Một trong những thách thức y tế công cộng nghiêm trọng nhất thế kỷ 21” [40]. Bệnh béo phì ở trẻ em có liên quan đến việc gia tăng bệnh tim mạch và tỷ lệ tử vong ở tuổi trưởng thành [43]. Bệnh có thể gây hại cho gần như mọi hệ thống trong cơ thể như tim, phổi, cơ, xương, thận, tiêu hóa, nội tiết; làm ảnh hưởng đến tâm lý tình cảm của trẻ và là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh không lây về sau [40]. Nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy khoảng 1/3 trẻ nhỏ thừa cân, béo phì sẽ tiếp tục thừa cân, béo phì ở tuổi trưởng thành [42].
Việc phát hiện và điều trị sớm bệnh béo phì ở trẻ em là cách tốt nhất để ngăn ngừa sự gia tăng bệnh tật cũng như chi phí chăm sóc sức khỏe sau này [44]. Ở Việt Nam, năm 2014, tác giả Trần Thị Minh Hạnh và cộng sự thực hiện một cuộc điều tra dịch tễ học quy mô lớn trên toàn thành phố Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh từ 6 đến 18 tuổi là 41,4%, trong đó cao nhất là học sinh tiểu học (51,8%) [11]. Nhiều nghiên cứu thực hiện tại các địa phương khác cũng cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học tương đối cao, cụ thể, tại thành phố Cần Thơ năm 2012 là 29,3% [18], tại Hà Nội năm 2013 là 39,3% [9], tại thành phố Vĩnh Long năm 2013 là 21,7% [21], tại thành phố Mỹ Tho năm 2014 là 42,0% [32]. 2 Thành phố Bến Tre là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Bến Tre, được nâng cấp đô thị loại III năm 2007, hướng tới xây dựng đô thị loại II năm 2019.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế và tốc độ đô thị hóa, sự thay đổi lối sống làm tỷ lệ thừa cân béo phì tăng lên một cách nhanh chóng. Toàn thành phố có 14 trường tiểu học với khoảng 9. Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của học sinh và các yếu tố liên quan. Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan ở học sinh tại các trường tiểu học thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre năm 2018” nhằm 2 mục tiêu: 1.
Xác định tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tại các trường tiểu học thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre năm 2018. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở học sinh tại các trường tiểu học thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre năm 2018. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thừa cân, béo phì Thừa cân (TC) là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng (CN) “nên có” so với chiều cao (CC). Béo phì (BP) là tình trạng tích lũy mỡ thái hóa và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể đến mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
Do đó, khi đánh giá béo phì không chỉ tính đến cân nặng mà phải quan tâm đến tỷ lệ mỡ của cơ thể [33].2 Các phƣơng pháp đánh giá thừa cân, béo phì Một số phương pháp định lượng đánh giá tình trạng dinh dưỡng trong cộng đồng [33]: Nhân trắc học. Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống. Các thăm khám thực thể/ dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt chú ý tới triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng. Các xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu là hóa sinh ở dịch thể và các chất bài tiết để đánh giá bão hòa dinh dưỡng.
Các xét nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt chất dinh dưỡng. Điều tra các tỷ lệ bệnh tật và tử vong. Sử dụng các phương pháp thống kê y tế để tìm hiểu mối liên quan giữa tình hình bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng. Đánh giá những yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe.
4 Ở trẻ em, hai chỉ số thường dùng nhất để đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì là chỉ số cân nặng/ chiều cao (CN/CC) và chỉ số BMI theo tuổi và giới. Chỉ số cân nặng/ chiều cao (CN/CC) được phân theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006 với quần thể tham khảo NCHS. Chỉ số này được tính trên trung bình quần thể và có các mốc lệch chuẩn -4SD, -3SD, - 2SD, -1SD, TB, +1SD, +2SD, +3SD, +4SD. Bảng được phân lập riêng theo giới cho trẻ trai và trẻ gái.
Trẻ có chỉ số CN/CC thấp hơn -2SD được tính là trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm, trẻ có chỉ số CN/CC lớn hơn +2SD được tính là trẻ thừa cân, béo phì. Trẻ có chỉ số CN/CC trong giới hạn -2SD đến +2SD là bình thường [33]. Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index: BMI) theo tuổi và giới được sử dụng để đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới với quần thể tham khảo từ 6 quốc gia: Brazil, Ghana, Ấn Độ, Nauy, Oman và Mỹ [47].1 Trẻ dưới 5 tuổi Thừa cân là tình trạng vượt quá mức cân nặng “nên có” so với chiều cao (CN/CC > +2 Z-score) so với quần thể tham chiếu NCHS (National Center for Health Statistics). Chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao ở mức cao (CC/CN > +2 Z-score) chưa đủ để đưa ra kết luận một trẻ bị béo phì, tuy nhiên có thể xem đó như là một chỉ tiêu đánh giá béo phì của một quần thể.
Nói một cách khác, để đánh giá béo phì cần phối hợp cả chỉ tiêu CN/CC và đo dự trữ mỡ [16], [33].2 Trẻ từ 5 đến 9 tuổi Đối với trẻ em 5 đến 9 tuổi chưa có thang phân loại riêng để đánh giá tình trạng thừa cân và béo phì. Trước đây, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước thường lấy ngưỡng cân nặng theo chiều cao (CN/CC > + 2 Z-score) so 5 với quần thể tham khảo NCHS để phân loại thừa cân và béo phì của trẻ - tương tự trẻ dưới 5 tuổi [33]. Năm 2011, tác giả Lê Thị Hợp, Huỳnh Nam Phương thống nhất phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng nhân trắc học, theo đó, trẻ em và vị thành niên từ 5 đến 19 tuổi có thể đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa trên BMI theo tuổi và giới [16].3 Trẻ vị thành niên (10-19 tuổi) Trẻ vị thành niên được tính cho lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi. Từ năm 1995, theo quy ước của Tổ chức Y tế thế giới, đối với trẻ vị thành niên, chỉ số khối cơ thể BMI được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng.
Chỉ số BMI ≥ 85 percentile được xem là thừa cân, BMI ≥ 95 percentile được xác định là béo phì. Ngoài ra, nếu BMI ≥ 85 percentile và cộng thêm bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu và xương bả vai ≥ 90 percentile cũng được xem là béo phì [33].4 Ở người trưởng thành (20-69 tuổi) Ở người trưởng thành, với chế độ dinh dưỡng hợp lý, cân nặng nói chung ổn định và duy trì trong một giới hạn nhất định, ta gọi là cân nặng “nên có” hay cân nặng “thích hợp”, có nhiều cách tính cân nặng nên có, như một số công thức sau: Công thức Broca: Cân nặng “nên có” (kg) = chiều cao (cm) - 100. Công thức Lorents: cao 150 Cân nặng “nên có” (kg) = cao (cm) - 100 - 4 Công thức Bongard: cao (cm) x vòng nguc (cm) Cân nặng “nên có” (kg) = 240 Các công thức này đều có giá trị riêng, nhưng có một nhược điểm là ở một người nhất định chúng có những trị số khác nhau về cân nặng nên có, do đó khi dùng cần nhất quán [33]. 6 Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng chỉ số khối cơ thể (BMI - 1995) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành.
Tháng 2 năm 2000, cơ quan khu vực Thái Bình Dương của Tổ chức Y tế thế giới (WPRO) và Hội nghiên cứu béo phì quốc tế đã phối hợp với Viện nghiên cứu bệnh Đái tháo đường quốc tế (IDI), Trung tâm hợp tác dịch tễ học Đái tháo đường và các bệnh không lây của Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra khuyến nghị về chỉ tiêu phân loại béo phì cho cộng đồng các nước châu Á (IDI và WPRO – 2000) như sau [16], [33]: Bảng 1.1 Phân loại béo phì theo WHO và IDI & WPRO WHO, 1998 IDI & WPRO, 2000 Phân loại BMI (kg/m2) BMI (kg/m2) Nhẹ cân < 18,5 < 18,5 Bình thường 18,5 – 24,9 18,5 – 22,9 Thừa cân ≥ 25,0 ≥ 23,0 Tiền béo phì 25,0 – 29,9 23,0 – 24,9 Béo phì độ 1 30,0 – 34,9 25,0 – 29,9 Béo phì độ 2 35,0 – 39,9 ≥ 30,0 Béo phì độ 3 ≥ 40,0 Một điều cần lưu ý trong phân loại béo phì là vùng mỡ tập trung, vì vậy bên cạnh việc theo dõi chỉ số BMI nên theo dõi thêm tỷ số vòng bụng/vòng mông, khi tỷ số này vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì các nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường đều tăng lên rõ rệt.3 Các yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì 1.1 Khẩu phần ăn và thói quen ăn uống Năng lượng dự trữ trong cơ thể là hiệu số của năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao. Chỉ khi có cân bằng năng lượng dương tính xảy ra trong một thời gian khá dài thì mới có khả năng phát triển thành béo phì. Chế độ ăn 7 nhiều chất béo hoặc có đậm độ nhiệt cao có liên quan chặt chẽ với sự gia tăng tỷ lệ béo phì. Các thức ăn giàu chất béo, đường ngọt thường ngon miệng nên người ta ăn quá thừa mà không biết.
Khi kinh tế tăng thường kéo theo lipid trong khẩu phần ăn tăng, thường do lượng mỡ tăng và lượng đường ngọt cũng tăng. Ở các nước có thu nhập thấp, suy dinh dưỡng, lao phổi và bệnh nhân nhiễm trùng chiếm ưu thế và khi thu nhập tăng các bệnh mạn tính và không lây như béo phì, tim mạch và đái tháo đường tăng lên [33].