Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng tự điều trị và sử dụng thuốc không qua thăm khám của bác sĩ đang là thách thức lớn đối với hệ thống y tế toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Báo cáo y tế ghi nhận tỷ lệ người dân tự mua thuốc điều trị tại các vùng nông thôn dao động từ 40% đến hơn 70%, điển hình như tại Thới Lai - Cần Thơ ghi nhận mức 54,2%. Việc lạm dụng thuốc không có đơn, đặc biệt là kháng sinh và thuốc đặc trị, tiềm ẩn nguy cơ kháng kháng sinh, sốc phản vệ, xuất huyết tiêu hóa và làm gia tăng gánh nặng chi phí y tế cho xã hội.

Nhằm giải quyết vấn đề quản lý dược và chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng sử dụng thuốc không có đơn tại tỉnh An Giang năm 2019 được thực hiện. Mục tiêu chính bao gồm: xác định tỷ lệ hộ gia đình sử dụng thuốc không có đơn, phân tích các yếu tố nhân khẩu - xã hội liên quan và đánh giá hiệu quả của mô hình can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe.

Nghiên cứu được triển khai trên địa bàn toàn bộ 11 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh An Giang trong giai đoạn từ ngày 30/6/2019 đến ngày 30/8/2019. Địa bàn khảo sát có quy mô dân số trên 2,41 triệu người cùng mạng lưới 1.534 cơ sở bán lẻ thuốc đạt chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc (GPP). Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong ngành Tổ chức quản lý dược, cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp giảm thiểu tỷ lệ lạm dụng thuốc sai mục đích, nâng tỷ lệ thực hành an toàn và tối ưu hóa chi phí điều trị cho người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng Mô hình Chăm sóc sức khỏe ban đầu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) kết hợp với Khung lý thuyết Tự điều trị có trách nhiệm (Responsible Self-Medication). Mô hình nhấn mạnh vai trò của người dân trong việc chủ động kiểm soát các triệu chứng bệnh nhẹ, giảm tải áp lực cho các cơ sở y tế tuyến trên nhưng vẫn phải đảm bảo an toàn dược lâm sàng. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp Mô hình Thông tin - Giáo dục - Truyền thông (IEC) trong y tế công cộng nhằm tạo sự chuyển đổi hành vi bền vững từ nhận thức đến thực hành.

Hệ thống khái niệm và căn cứ pháp lý cốt lõi bao gồm:

  • Thuốc không có đơn: Các loại thuốc tân dược hoặc đông dược do người dân tự mua tại quầy mà không có đơn thuốc chỉ định từ bác sĩ điều trị.
  • Thuốc không kê đơn (OTC): Danh mục các thuốc an toàn, độc tính thấp, phạm vi liều rộng được phép bán lẻ không cần đơn theo Thông tư số 07/2017/TT-BYT của Bộ Y tế.
  • Quy chế kê đơn và bán lẻ thuốc: Quy định nghiêm cấm bán thuốc kê đơn không có đơn tại Luật Dược số 105/2016/QH13 và chuẩn mực tư vấn dược tại Thông tư số 02/2018/TT-BYT về Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp can thiệp cộng đồng trước - sau. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước tính tỷ lệ một quần thể với mức tin cậy 95% (hệ số Z = 1,96), tỷ lệ dự đoán p = 0,54 và sai số d = 0,05, tính ra 382 hộ và thực tế mở rộng lên 484 hộ gia đình để đảm bảo tính đại diện cao nhất.

Quy trình chọn mẫu thực hiện qua 4 giai đoạn ngẫu nhiên:

  • Giai đoạn 1: Chọn toàn bộ 11 huyện, thị xã, thành phố của An Giang.
  • Giai đoạn 2: Chọn ngẫu nhiên 2 xã, phường, thị trấn cho mỗi địa phương qua hàm random.
  • Giai đoạn 3: Chọn 22 hộ gia đình liền kề nhau bắt đầu từ trạm y tế xã.
  • Giai đoạn 4: Chọn 1 người đại diện từ 18 tuổi trở lên trực tiếp mua thuốc trong 30 ngày.

Dữ liệu được thu thập trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc chuẩn hóa, sau đó can thiệp truyền thông nhóm nhỏ (10-12 người/nhóm) kết hợp phát tờ rơi thông tin trong 1 tháng. Dữ liệu xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 18.0. Lý do lựa chọn kiểm định Chi-bình phương (Chi-square) nhằm xác định các mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu, kiến thức với hành vi mua thuốc; trong khi kiểm định McNemar được áp dụng để đánh giá chính xác mức độ thay đổi kiến thức và thực hành trước và sau can thiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu từ 480 hộ gia đình hoàn tất khảo sát phản ánh các kết quả trọng tâm sau:

  • Tỷ lệ sử dụng thuốc không đơn ở mức cao: Có 71,5% hộ gia đình (343 hộ) tự mua thuốc không có đơn của bác sĩ trong vòng 30 ngày qua, trong khi chỉ có 28,5% hộ gia đình mua thuốc theo đơn chỉ định.
  • Nguồn cung cấp và thông tin tư vấn: 83,1% người dân chọn mua thuốc trực tiếp tại các nhà thuốc hoặc quầy thuốc tư nhân, 44,4% sử dụng từ tủ thuốc sẵn có tại nhà và 9,6% mua theo gợi ý của hàng xóm. Nguồn tư vấn thông tin phổ biến nhất đến từ nhân viên y tế (91,9%), người bán thuốc (78,8%) và thói quen dùng lại đơn thuốc cũ (44,8%).
  • Mối liên quan nhân khẩu học: Nhóm tuổi dưới 40 có thói quen mua thuốc không đơn chiếm 73,9%. Tỷ lệ sử dụng thuốc không đơn ở nam giới là 75,4% và nữ giới là 69,2% (p = 0,145). Nhóm có trình độ học vấn tiểu học có xu hướng tự mua thuốc cao gấp nhiều lần nhóm mù chữ với OR = 0,238 (p = 0,026). Nhóm làm nông nghiệp có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm sinh viên với OR = 1,950 (p = 0,033).

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu khi được trình bày qua biểu đồ cột và bảng tần số cho thấy hành vi sử dụng thuốc không có đơn tại An Giang (71,5%) tương đồng với quận Ninh Kiều - Cần Thơ (73,55%), cao hơn rõ rệt so với Tây Ninh (40%), Bình Định (42,4%) và Bình Tân - TP.HCM (58,2%). Trên bình diện quốc tế, con số này thấp hơn tại Malaysia (83,9%) và Nepal (82%), nhưng cao hơn tại Ý (61,5%).

Nguyên nhân chính xuất phát từ tính tiện lợi, tiết kiệm thời gian chờ đợi tại bệnh viện công và giảm chi phí khám bệnh ban đầu. Người dân thường tự chẩn đoán các bệnh lý nhẹ như cảm sốt, nhức đầu, dị ứng và tìm đến người bán thuốc. Tuy nhiên, việc 44,8% người dân dùng lại đơn thuốc cũ và 78,8% phụ thuộc hoàn toàn vào tư vấn của người bán lẻ cho thấy rủi ro lớn khi cơ sở bán lẻ chưa tuân thủ chặt chẽ việc từ chối bán thuốc kê đơn. Kết quả can thiệp truyền thông IEC sau 1 tháng đã tạo ra bước chuyển biến rõ rệt: tỷ lệ người dân hiểu đúng về liều tối đa Paracetamol (dưới 4g/ngày) và không tự ý dùng kháng sinh trị viêm họng thông thường tăng lên đáng kể với mức ý nghĩa p < 0,01 qua kiểm định McNemar.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng dịch tễ và quản lý dược, 4 nhóm giải pháp trọng tâm được kiến nghị thực hiện:

  1. Tăng cường thanh tra và kiểm soát bán thuốc kê đơn: Sở Y tế tỉnh An Giang cần phối hợp với Phòng Y tế các huyện thiết lập cơ chế hậu kiểm định kỳ 100% các nhà thuốc, quầy thuốc trên địa bàn; xử phạt nghiêm các hành vi bán lẻ kháng sinh và thuốc chuyên khoa không có đơn theo Nghị định 117/2020/NĐ-CP, đặt mục tiêu giảm 50% vi phạm bán thuốc kê đơn trong vòng 12 tháng.
  2. Nâng cao năng lực tư vấn của dược sĩ bán lẻ: Hội Dược học và Trường Cao đẳng Y tế An Giang tổ chức các khóa đào tạo liên tục (CPE) định kỳ 6 tháng/lần cho hơn 1.500 dược sĩ phụ trách chuyên môn, tập trung vào kỹ năng phân loại danh mục thuốc theo Thông tư 07/2017/TT-BYT và quy chuẩn tư vấn tự điều trị an toàn.
  3. Mở rộng mô hình truyền thông giáo dục sức khỏe IEC: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) An Giang và các Trạm Y tế xã đẩy mạnh chiến dịch truyền thông nhóm nhỏ kết hợp loa phát thanh xã và mạng xã hội; phát hành tối thiểu 10.000 tờ rơi hướng dẫn nhận diện hạn dùng, tác dụng phụ và liều dùng thuốc trong quý I và quý II hằng năm.
  4. Kiểm soát và hướng dẫn quản lý tủ thuốc gia đình: Trạm Y tế xã lồng ghép hướng dẫn người dân định kỳ 3 tháng rà soát tủ thuốc gia đình, loại bỏ thuốc hết hạn, bảo quản thuốc đúng nhiệt độ dưới 30 độ C và tuyệt đối không tích trữ kháng sinh để tự dùng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham chiếu thiết thực cho nhiều nhóm chuyên môn:

  • Cơ quan quản lý Dược và Sở Y tế: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm để hoạch định chính sách giám sát mạng lưới bán lẻ GPP, kiểm soát tình trạng bán kháng sinh tự do và xây dựng tiêu chuẩn quản lý y tế tuyến cơ sở.
  • Chủ cơ sở bán lẻ thuốc và Dược sĩ cộng đồng: Tài liệu giúp chuẩn hóa quy trình tư vấn bán thuốc không kê đơn, nâng cao trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp và giảm thiểu tai biến do tương tác thuốc cho khách hàng.
  • Học viên sau đại học, giảng viên ngành Dược: Nguồn tư liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu định lượng, thiết kế can thiệp cộng đồng IEC và quy trình xử lý dữ liệu y tế bằng SPSS 18.0.
  • Cán bộ y tế dự phòng và truyền thông sức khỏe: Nắm bắt các rào cản nhận thức của người dân nông thôn, từ đó thiết kế các thông điệp giáo dục sức khỏe phù hợp với từng nhóm nhân khẩu học.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ sử dụng thuốc không có đơn tại An Giang là bao nhiêu?
Nghiên cứu ghi nhận 71,5% hộ gia đình (343 trên tổng số 480 hộ) có sử dụng thuốc không có đơn bác sĩ trong vòng 30 ngày. Con số này phản ánh thói quen tự điều trị rất phổ biến của người dân địa phương đối với các triệu chứng bệnh thông thường.

Nguồn cung cấp thuốc chủ yếu của người dân đến từ đâu?
Có đến 83,1% người dân mua thuốc tại nhà thuốc hoặc quầy thuốc tư nhân. Ngoài ra, 44,4% số người được hỏi tận dụng các loại thuốc lưu trữ sẵn trong tủ thuốc gia đình để tự chữa bệnh trước khi tìm đến sự trợ giúp y tế.

Những yếu tố xã hội nào liên quan đến hành vi tự dùng thuốc?
Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn (nhóm tiểu học tự mua thuốc nhiều hơn nhóm mù chữ với p = 0,026) và nghề nghiệp (người làm nông có tỷ lệ mua thuốc không đơn khác biệt so với nhóm khác với p = 0,033).

Mô hình can thiệp nào đã được áp dụng hiệu quả trong nghiên cứu?
Phương pháp Thông tin - Giáo dục - Truyền thông (IEC) được triển khai qua hình thức thảo luận nhóm nhỏ từ 10 đến 12 người, kết hợp phát tờ bướm tóm tắt liều dùng, chỉ định và chống chỉ định của thuốc không kê đơn trong thời gian 1 tháng.

Hậu quả lớn nhất của việc tự ý sử dụng thuốc không đơn là gì?
Hậu quả nghiêm trọng nhất là hiện tượng kháng thuốc kháng sinh do sử dụng sai liều lượng, gia tăng nguy cơ ngộ độc thuốc như Paracetamol quá liều 4g/ngày, dị ứng phù nề và tạo gánh nặng kinh tế do biến chứng phải nhập viện kéo dài.

Kết luận

  • Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng thuốc không có đơn tại An Giang năm 2019 chiếm mức cao với 71,5%, chủ yếu mua tại các nhà thuốc tư nhân (83,1%).
  • Trình độ học vấn và nghề nghiệp là hai yếu tố nhân khẩu có mối liên quan mật thiết với hành vi tự mua thuốc điều trị bệnh của người dân.
  • Mô hình can thiệp truyền thông IEC chứng minh hiệu quả vượt trội trong việc nâng cao kiến thức nhận diện thuốc và cải thiện thực hành an toàn sau 1 tháng.
  • Lộ trình 2020-2025 đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý y tế, mạng lưới 1.534 nhà thuốc GPP và chính quyền cơ sở để kiểm soát bán thuốc kê đơn.
  • Các đơn vị y tế và nhà nghiên cứu quan tâm có thể áp dụng ngay mô hình can thiệp IEC này nhằm nâng cao nhận thức dùng thuốc an toàn trong cộng đồng.