Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và đa kháng kháng sinh của klebsiella pneumoniae sinh esbl carbapenemase trên bệnh phẩm phân lập được tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ n

Nghiên cứu tình hình kháng sinh và đa kháng kháng sinh của Klebsiella pneumoniae sinh ESBL carbapenemase tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn chuyên khoa cấp II

2021

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương về Klebsiella pneumoniae

1.1.1. Đặc điểm sinh học

1.1.1.1. Hình thái và cấu trúc
1.1.1.2. Tính chất nuôi cấy
1.1.1.3. Sức đề kháng
1.1.1.4. Tính chất hóa sinh

1.1.2. Dịch tễ

1.1.3. Khả năng gây bệnh

1.2. Tổng quan về men beta-lactamase phổ rộng và men carbapenemase và các phương pháp phát hiện

1.2.1. Men beta-lactamase phổ rộng

1.2.2. Men carbapenemase

1.2.3. Phương pháp phát hiện ESBL

1.2.3.1. Phương pháp đĩa kết hợp
1.2.3.2. Phương pháp E – test
1.2.3.3. Phương pháp sử dụng máy tự động

1.2.4. Phương pháp bất hoạt carbapenem cải tiến để xác định vi khuẩn sinh men carbapenemase

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ

Tình hình sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Việc lạm dụng kháng sinh không chỉ làm gia tăng tình trạng kháng thuốc mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Đặc biệt, Klebsiella pneumoniae là một trong những tác nhân chính gây ra các bệnh nhiễm trùng kháng thuốc. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh và mức độ kháng thuốc của vi khuẩn này.

1.1. Đặc điểm của Klebsiella pneumoniae và vai trò trong nhiễm trùng

Klebsiella pneumoniae là một loại vi khuẩn gram âm, thường gây ra các bệnh nhiễm trùng như viêm phổi và nhiễm trùng máu. Vi khuẩn này có khả năng sinh men beta-lactamasecarbapenemase, làm cho việc điều trị trở nên khó khăn hơn.

1.2. Tình hình kháng sinh tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ

Tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, tỷ lệ sử dụng kháng sinh cao, đặc biệt là các nhóm kháng sinh phổ rộng. Điều này dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ vi khuẩn Klebsiella pneumoniae kháng thuốc, ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

II. Vấn đề đa kháng kháng sinh của Klebsiella pneumoniae hiện nay

Đa kháng kháng sinh là một thách thức lớn trong điều trị nhiễm trùng do Klebsiella pneumoniae. Việc xuất hiện các chủng vi khuẩn kháng thuốc đã làm giảm hiệu quả của nhiều loại kháng sinh. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố góp phần vào tình trạng này.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đa kháng kháng sinh

Sự lạm dụng kháng sinh trong điều trị và việc sử dụng không đúng cách là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đa kháng kháng sinh. Việc này không chỉ xảy ra ở bệnh viện mà còn ở cộng đồng.

2.2. Hệ quả của đa kháng kháng sinh trong điều trị

Tình trạng đa kháng kháng sinh dẫn đến việc tăng tỷ lệ tử vong và kéo dài thời gian điều trị. Điều này cũng làm gia tăng chi phí y tế và tạo ra gánh nặng cho hệ thống y tế.

III. Phương pháp nghiên cứu tình hình kháng sinh và đa kháng kháng sinh

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp định lượng và định tính để đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh và mức độ kháng thuốc của Klebsiella pneumoniae. Các phương pháp này bao gồm phân tích mẫu bệnh phẩm và khảo sát sử dụng kháng sinh.

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ các mẫu bệnh phẩm tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Các mẫu này sẽ được phân tích để xác định tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc.

3.2. Phương pháp phân tích kháng sinh

Sử dụng các phương pháp như kháng sinh đồ để xác định mức độ nhạy cảm của Klebsiella pneumoniae đối với các loại kháng sinh khác nhau. Điều này giúp đánh giá tình hình kháng thuốc một cách chính xác.

IV. Kết quả nghiên cứu về tình hình kháng sinh và đa kháng kháng sinh

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vi khuẩn Klebsiella pneumoniae kháng thuốc đang gia tăng tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời để kiểm soát tình hình này.

4.1. Tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc

Tỷ lệ vi khuẩn Klebsiella pneumoniae kháng lại các loại kháng sinh phổ biến như cephalosporin và carbapenem đang ở mức cao. Điều này cho thấy sự gia tăng đáng kể trong khả năng kháng thuốc của vi khuẩn này.

4.2. Ứng dụng thực tiễn từ kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng để xây dựng các hướng dẫn điều trị kháng sinh hợp lý hơn, nhằm giảm thiểu tình trạng kháng thuốc và cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong nghiên cứu kháng sinh

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy tình hình kháng sinh và đa kháng kháng sinh của Klebsiella pneumoniae tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đang ở mức báo động. Cần có các biện pháp can thiệp hiệu quả để kiểm soát tình trạng này.

5.1. Tầm quan trọng của việc kiểm soát kháng sinh

Việc kiểm soát tình trạng kháng sinh là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Cần có các chiến lược giáo dục và nâng cao nhận thức về việc sử dụng kháng sinh hợp lý.

5.2. Hướng đi tương lai trong nghiên cứu

Nghiên cứu cần tiếp tục để theo dõi tình hình kháng thuốc và phát triển các phương pháp điều trị mới. Điều này sẽ giúp cải thiện hiệu quả điều trị và giảm thiểu tình trạng kháng thuốc trong tương lai.

09/07/2025
Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và đa kháng kháng sinh của klebsiella pneumoniae sinh esbl carbapenemase trên bệnh phẩm phân lập được tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ n

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về Klebsiella pneumoniae Klebsiella là một trong những chi quan trọng của họ vi khuẩn đường ruột, được đặt theo tên nhà vi khuẩn học người Đức, Edwin Klebs. Klebsiella là một trong năm chi thuộc tộc Klebsielleae (bốn chi khác là Enterobacter, Serratia, Pantoea và Hafnia). Chi Klebsiella gồm các loài: Klebsiella pneumoniae, Klebsiella oytoca, Klebsiella panticola, Klebsiella onithicrocytica, Klebsiella terrigena.

Loài quan trọng nhất và cũng là đại diện điển hình của chi này là Klebsiella pneumoniae (K. Đặc điểm phân loại của K. pneumoniae: Giới: Bacteria Ngành: Proteobacteria Lớp: Gammaproteobacteria Bộ: Enterobacteriales Họ: Enterobacteriaceae Chi: Klebsiella Loài: Klebsiella pneumoniae 1. Đặc điểm sinh học 1.

Hình thái và cấu trúc Klebsiella pneumoniae là một loại trực khuẩn gram âm, bắt màu đậm ở hai cực, kích thước 0,5 - 2 µm, hình que, không có lông, không di động, có vỏ, không sinh nha bào [1]. Vi khuẩn này thường đứng thành đôi, có vỏ dày (kích thước có thể gấp 2-3 lần tế bào vi khuẩn) [11]. Hình ảnh Klebsiella pneumoniae dưới kính hiển vi (Nguồn: Trần Đỗ Hùng - 2019 [9]) 1. Tính chất nuôi cấy Klebsiella pneumoniae là loài sống hiếu kỵ khí tùy nghi.

Phát triển dễ dàng trên môi trường nuôi cấy thông thường [11]. - Trên thạch dinh dưỡng hay thạch máu, khuẩn lạc lầy nhầy có màu xám, kích thước 3-4mm, dạng M, tuy nhiên có thể gặp một số dạng R [1]. Khuẩn lạc Klebsiella pneumoniae trên môi trường MC (Nguồn: Trần Đỗ Hùng - 2019 [9]) 5 - Trên môi trường DCA, SS, Mac Conkey khuẩn lạc màu hồng do lên men lactose [11]. - Trong canh thang, vi khuẩn mọc nhanh và đục đều, ở đáy ống có lắng cặn [1].

Sức đề kháng Giống như các vi khuẩn đường ruột khác, chúng dễ bị các hoá chất khử trùng diệt nhưng có khả năng tồn tại lâu ở ngoại cảnh (nước, đất) [9]. Vi khuẩn này được bao quanh bởi một lớp vỏ, có tác dụng làm tăng độc tính của vi khuẩn bằng cách hoạt động như một rào cản vật lý để tránh phản ứng miễn dịch của vật chủ. Lớp vỏ này còn có khả năng bảo vệ các tế bào vi khuẩn không bị khô do tác động của môi trường ngoại cảnh. pneumoniae là vi khuẩn phổ biến trong môi trường sống, nó có thể cư trú trong hệ vi sinh của người [11].

Tính chất hóa sinh Lên men nhiều loại đường: glucose, lactose, saccarose. Oxydase âm tính. Phản ứng indol âm tính. Phản ứng citrat dương tính.

Urease dương tính. Phản ứng Red Methyl âm tính. Phản ứng Voges-Proskauer dương tính. Dịch tễ Klebsiella pneumoniae có thể được tìm thấy trong miệng, da và đường ruột nhưng những chủng vi khuẩn này ban đầu không có khả năng gây bệnh (Postgate, 1998).

Mặc dù được tìm thấy trong hệ vi khuẩn chí bình thường ở người, K. pneumoniae có thể biến đổi thành dạng vi khuẩn có khả năng gây nhiễm khuẩn nặng cho người như viêm phổi, nhiễm trùng máu, nhiễm trùng vết thương, nhiễm trùng đường tiết niệu và viêm màng não [11]. Khả năng gây bệnh K. pneumoniae là một trong ba tác nhân vi khuẩn hàng đầu (K.

aureus) trong 7 tác nhân gây nhiễm khuẩn cho người được Tổ chức Y tế thế giới liệt kê, đưa vào danh sách các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh mấu chốt. pneumoniae có thể gây viêm và xuất huyết kèm hoại tử làm tổn thương phổi nặng. Thông thường, nhiễm trùng Klebsiella được ghi nhận chủ yếu ở những người có hệ miễn dịch suy yếu. Phân là nguồn lan truyền vi khuẩn quan trọng nhất từ những bệnh nhân bị nhiễm trùng, kế đến là việc tiếp xúc với dụng cụ bị nhiễm bẩn.

Ngoài ra, việc sử dụng thuốc kháng sinh có thể là một yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện với vi khuẩn Klebsiella pneumoniae. pneumoniae là một trong những chủng vi khuẩn nhiễm khuẩn bệnh viện kháng đa kháng sinh, trong đó, nguồn lây truyền tính kháng kháng sinh chủ yếu thông qua các gen kháng kháng sinh nằm trên plasmid từ chủng này sang chủng khác. Môi trường sống của K. pneumoniae không chỉ giới hạn ở người mà còn lan rộng trong môi trường sinh thái, như đất, nước và nước thải.

pneumoniae có thể sống sót trong môi trường khắc nghiệt trong thời gian dài. pneumoniae sinh carbapenemase đã được phát hiện trong môi trường và các trang thiết bị ở bệnh viện như áo choàng, găng tay và nước thải. Tần suất lây nhiễm K. pneumoniae sinh carbapenemase do găng tay của nhân viên y tế cũng tương tự như nhiễm khuẩn do Staphylococcus aureus và Enterococcus kháng Vancomycin.

Điều này cho thấy sự lan truyền nhanh chóng của K. pneumoniae sinh carbapenemase trong môi trường bệnh viện. Một nghiên cứu cho thấy sau khi bệnh nhân xuất viện, các chủng K. pneumoniae sinh KPC vẫn có thể sống sót sau 3 năm [32].

Các vi khuẩn Enterobacteriaceae (từ K. coli) cư trú trong ruột người chuyển gen KPC cho nhau xảy ra thường xuyên. Do đó, các ổ chứa là trang bị 7 bảo hộ của nhân viên y tế, đồ dùng bệnh nhân, hoặc môi trường bệnh viện có thể là một phương thức chủ yếu lây lan các nhiễm khuẩn bệnh viện. Các chủng Klebsiella kháng thuốc mới đang ngày một gia tăng gây khó khăn cho công tác điều trị và là vấn đề toàn cầu.

Một nghiên cứu gần đây cho thấy, đến năm 2050, hơn 10 triệu người sẽ chết mỗi năm nếu sự gia tăng của các vi khuẩn kháng kháng sinh vẫn tiếp tục duy trì tốc độ phát triển như hiện tại. Chính vì vậy, nghiên cứu các đặc tính kháng kháng sinh và dịch tễ học phân tử các chủng K. pneumoniae gây bệnh trên người có vai trò hết sức quan trọng trong việc kiểm soát sự gia tăng kháng kháng sinh trên toàn cầu [11]. Tổng quan về men beta-lactamase phổ rộng, men carbapenemase và các phương pháp phát hiện 1.

Men beta-lactamase phổ rộng Extended-Spectrum Beta-lactamase (ESBL) là các enzym có thể được sản xuất bởi vi khuẩn, chúng có nguồn gốc từ plasmid, chúng phân hủy tất cả β-lactam kể cả kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin và aztreonam thế hệ thứ ba trừ carbapenems. Cho đến gần đây các enzyme này bị ức chế bởi acid clavulanic, sulbactam, và tazobactam [1], [2]. Vào đầu thập niên 1980, các cephalosporines thế hệ thứ 3 được lưu hành trên thị trường, nhưng sau khi được sử dụng rộng rãi trong điều trị nhiều bệnh nhiễm trùng, các biến đổi nhỏ trong chuỗi gen gốc đã làm thay đổi đáng kể tính ái lực của các enzyme đối với cơ chất, và đã hình thành một nhóm beta-lactamase phổ rộng, hay còn được gọi là ESBL. Phần lớn các ESBL này đến từ phổ TEM-1 và SHV-1.

Thực tế, có trên 90 types beta-lactamase TEM và 25 types beta lactamase SHV. Nhiều họ ESBL mới được mô tả gần đây là: CTX-M, OXA… [1]. Sự đề kháng này diễn tiến nhanh và việc thay thế một lượng nhỏ acid amin của các beta-lactamase làm cho vi khuẩn càng đề kháng cao hơn nữa, 8 đặc biệt là các beta-lactamase có gen AmpC hoặc các cephalosporinase cấp độ cao [51], [52], [55]. Gần đây, việc sản xuất quá mức các cephalosporinase từ nhiễm sắc thể ở cấp độ rất cao đã tạo nên một loại mới đề kháng với các cephalosporine thế hệ 3.

Các enzyme này không phân hủy kháng sinh mà ức chế sự tiếp cận của kháng sinh tại vị trí tác dụng [53]. Chúng được sinh ra ở các loài vi khuẩn tự sản sinh cephalosporinase do cảm ứng (trực khuẩn đường ruột, Pseudomonas aeruginosa), sau khi xảy ra đột biến, các vi khuẩn sản xuất ra một lượng rất lớn các men này. Đó là kiểu hình: “tăng sản sinh cephalosporinases” hoặc “cephalosporines bức phá”. Thêm nữa, việc sản sinh các carbapenemases bởi các vi khuẩn gram âm có thể làm cho vi khuẩn đề kháng với tất cả các thuốc nhóm betalactam, bao gồm cả kháng sinh nhóm carbapenemes [1].

Tóm lại, việc tăng dần sự đề kháng của vi khuẩn, làm giảm hiệu quả các các kháng sinh nhóm beta-lactam do sự sản sinh các beta-lactamase, đặc biệt là sự xuất hiện men ESBL, đồng thời với việc sản sinh carbapenemase gây thu hẹp đáng kể “kho vũ khí” hiện có và làm cho việc điều trị các bệnh nhiễm trùng ngày càng phức tạp. Men carbapenemase Carbapenemase là men phá huỷ được tất cả β-lactam kể cả carbapenem, có nhiều carbapenemase như: KPC, VIM, IMP, NDM-1, OXA-48 được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Trong số các carbapenem này thì KPC, NDM-1 là 2 loại enzyme có hoạt tính kháng kháng sinh mạnh và lây lan ở nhiều quốc gia trên thế giới [32]. Gen mã hóa KPC hiện diện trên nhân tố di truyền di động là transposon Tn4401, một cấu trúc có khả năng chuyển vị các bản sao với tần suất cao (4,4 x 106) các trình tự gene mã hóa enzyme này [36], [42], [43].

Transposon tn 4401 cũng có khả năng chèn vào nhiều trình tự khác 9 nhau, trên các plasmid có kích thướt khác nhau và trên những nhóm incompatitle khác nhau [38], [40]. Các ESBL có hoạt tính thủy phân carbapenems chia làm 3 nhóm: - Nhóm A β-lactamases: nguồn gốc NST, ức chế bởi clavulanic acid: IMI, NMC-A and SME, tìm thấy ở Enterobacter cloacae và Serratia marcescens. Nguồn gốc plasmid: tìm thấy trong Enterobacteriaceae; GES- type tìm thấy trong Enterobacteriaceae và P. - Nhóm B - metallo-beta-lactamases (MBLs) gồm cả New Delhi metallo- β-lactamase (NDM), Verona integron-encoded-metallo-β-lactamase (VIM) và imipenemase-metallo-β- lactamase (IMP): quan trọng nhất về lâm sàng nguồn gốc plasmid và intergon.

Tìm thấy nhiều nơi trên thế giới. Mới đây là NDM-1 được cảnh báo là nguy hiểm nhất vì lan truyền cao. AmC beta-lactamase, nguồn gốc plasmid, là CMY-10. có hoạt tính cephalosporinase và một số carbapenemase [9].

- Nhóm D - OXA-carbapenemases: chủ yếu tìm thấy ở Acinetobacter baumanii, làm yếu đi hoạt tính của imipenem và meropenem. Phương pháp phát hiện ESBL 1. Phương pháp đĩa kết hợp Bằng cách sử dụng hai loại đĩa kháng sinh là cephalosporins thế hệ 3 và cephalosporins thế hệ 3 tương ứng phối hợp với clavulanic acid. Vi khuẩn tiết ESBL khi hiệu số đường kính vòng vô khuẩn của đĩa cephalosporins có phối hợp với clavulanic acid so đĩa cephalosporins ≥ 5mm.

Các đĩa kháng sinh được sử dụng là cefotaxim (30µg)/ cefotaxim – clavulanic acid (30/10µg); ceftazidim (30µg)/ ceftazidim – clavulanic acid (30/10µg); cefpodoxim (10 µg)/ cefpodoxim (10/10 µg) [1], [4]. Phương pháp đĩa kết hợp phát hiện ESBL (Nguồn: Bộ Y tế - 2017 [4]) 1. Phương pháp E – test Dùng que E – test (AB Biodisk, Solna, Sweden), một đầu là dãy chứa nồng độ của cephalosporin và đầu đối diện là dãy nồng độ của cephalosporin / clavulanic acid. Khi đầu chứa clavulanic acid cho MIC giảm ≥ 8 lần so với đầu còn lại thì suy ra được rằng vi khuẩn có sinh ESBL.

Phương pháp này cho kết quả chính xác nhưng giá thành khá cao. Phương pháp E - test phát hiện ESBL (Nguồn: Bộ Y tế - 2017 [4]) 11 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tình Hình Sử Dụng Kháng Sinh và Đa Kháng Kháng Sinh của Klebsiella pneumoniae tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình sử dụng kháng sinh và sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn đa kháng kháng sinh trong môi trường bệnh viện. Nghiên cứu này không chỉ giúp nhận diện các xu hướng kháng thuốc mà còn chỉ ra những nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giám sát và quản lý việc sử dụng kháng sinh để giảm thiểu tình trạng kháng thuốc.

Để mở rộng kiến thức của bạn về vấn đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Khảo sát tình hình sử dụng và mức độ đề kháng kháng sinh tại khoa hô hấp bệnh viện đa khoa thành phố cần thơ, nơi cung cấp thông tin chi tiết về tình hình kháng sinh tại một khoa khác trong bệnh viện. Ngoài ra, tài liệu Lương mai linh phân tích tình hình sử dụng kháng sinh nhóm carbapenem tại bệnh viện đa khoa tỉnh điện biên luận văn thạc sĩ dược học hà nội 2023 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về một nhóm kháng sinh quan trọng và tình hình sử dụng của chúng. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ một số đặc điểm dịch tễ học của nhiễm khuẩn bệnh viện do vi khuẩn kháng carbapenem mang gen ndm1 tại bệnh viện việt đứchà nội sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về dịch tễ học của các vi khuẩn kháng thuốc, giúp bạn nắm bắt được bối cảnh rộng hơn của vấn đề kháng sinh trong y tế. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.