Tài liệu: Nghiên cứu tình hình sinh trưởng của rừng trồng cao su hevea

Nghiên cứu sinh trưởng rừng trồng cao su Hevea Brasiliensis tại xã Cóc Mỳ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Phân tích đặc điểm phát triển và năng suất cây cao su.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2013

61
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình sinh trưởng rừng trồng Cao su

Cây cao su (Hevea brasiliensis Mull Arg) là một loài cây trồng nhiệt đới có nguồn gốc từ lưu vực sông Amazon, được du nhập vào Việt Nam từ năm 1897. Sau nhiều thập niên nghiên cứu và phát triển, cây cao su đã trở thành cây trồng kinh tế quan trọng trong cơ cấu cây công nghiệp dài ngày. Đến năm 2007, diện tích trồng cao su đã phát triển lên 549.600 ha trên nhiều vùng khác nhau của Việt Nam. Cây cao su đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu cho sản xuất và xuất khẩu. Sinh trưởng của rừng trồng cao su phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, quản lý kỹ thuật và các biện pháp bảo vệ phù hợp.

1.1. Đặc điểm hình thái của cây cao su

Cây cao su thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), có hình thái đặc trưng với thân gỗ cao, tán lá rộng và khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới. Đặc điểm sinh thái của cây cao su cho phép nó phát triển tốt trên nhiều loại đất khác nhau. Cây có chu kỳ sinh sản dài, tuy nhiên khả năng tái sinh mạnh mẽ giúp duy trì năng suất cao trong thời gian dài.

1.2. Vai trò kinh tế và xã hội

Rừng trồng cao su không chỉ cung cấp mủ để sản xuất cao su tự nhiên mà còn tạo ra việc làm cho hàng triệu lao động trong nước. Sản phẩm cao su là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, góp phần quan trọng vào GDP quốc gia. Việc phát triển rừng trồng cao su còn giúp bảo vệ môi trường và cải thiện điều kiện sống cho cộng đồng địa phương.

II. Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến sinh trưởng rừng trồng

Tình hình sinh trưởng của rừng trồng cao su chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn và thổ nhưỡng. Vùng huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai là một trong những khu vực có điều kiện phát triển rừng trồng cao su tương đối tốt. Khí hậu ở khu vực này có đặc điểm mưa tập trung, độ ẩm cao và nhiệt độ phù hợp với yêu cầu của cây cao su. Sinh trưởng về đường kínhsinh trưởng chiều cao của cây phụ thuộc vào khả năng cung cấp nước và dinh dưỡng từ đất. Độ dốc địa hình cũng ảnh hưởng đáng kể đến phân bố nước trong đất và hiệu quả hấp thụ dinh dưỡng của cây.

2.1. Yếu tố khí hậu và thủy văn

Khí hậu nhiệt đới với lượng mưa từ 1.500-2.500mm/năm là điều kiện lý tưởng cho sinh trưởng rừng trồng cao su. Nhiệt độ trung bình hàng năm 22-26°C tạo điều kiện tối ưu cho quá trình quang hợp và tích lũy sinh khối. Độ ẩm không khí cao giúp giảm tốc độ mất nước và hỗ trợ sinh trưởng chiều caosinh trưởng đường kính của cây phát triển ổn định.

2.2. Đặc tính thổ nhưỡng

Đất sét thịt, thịt sẹc và đất bazan lở từ đá nguyên vẹn cung cấp dinh dưỡng phong phú cho rừng trồng cao su. Độ pH từ 5,5-6,5 là phạm vi tối ưu để cây hấp thụ các nguyên tố dinh dưỡng. Sinh trưởng về đường kính tán lá phụ thuộc nhiều vào độ ph肥dưỡng của đất và khả năng giữ ẩm của thổ nhưỡng.

III. Kết quả đánh giá sinh trưởng rừng trồng cao su

Nghiên cứu tình hình sinh trưởng của rừng trồng cao su tại xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát cho thấy tỷ lệ sống của cây đạt mức tương đối cao. Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của cây được đánh giá dựa trên các số liệu đo đạc định kỳ, cho thấy cây phát triển theo hướng tích cực. Sinh trưởng đường kính của cây tăng đều đặn qua các năm, phản ánh sức khỏe tốt của rừng trồng. Tuy nhiên, sinh trưởng chiều cao dưới cành còn bị hạn chế do cạnh tranh ánh sáng trong tán lá dày. Sinh trưởng đường kính tán lá có sự khác biệt tùy thuộc vào điều kiện độ dốc tại các vị trí khác nhau, với những vị trí có độ dốc vừa phải cho sinh trưởng tốt nhất.

3.1. Tỷ lệ sống và chỉ số sinh trưởng

Tỷ lệ sống của rừng trồng cao su ở các vị trí có độ dốc khác nhau dao động từ 85-95%, cho thấy khả năng thích ứng tốt của cây. Sinh trưởng về đường kính tại ba cấp dốc (cấp 1, cấp 2, cấp 3) có sự khác biệt đáng kể, với cấp 2 cho sinh trưởng tốt nhất. Các chỉ số sinh trưởng được đo lường bao gồm chiều cao, đường kính ngang và diện tích mặt cắt ngang.

3.2. Đánh giá chất lượng rừng trồng

Chất lượng rừng trồng cao su được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như sinh trưởng chiều cao, sinh trưởng đường kính, độ đồng đều của cây, mục đích sử dụng tương lai. Rừng trồng ở khu vực nghiên cứu được xếp vào loại tốt, có khả năng cho sản lượng mủ cao trong tương lai. Cấu trúc rừng trồng hợp lý với mật độ cây thích hợp tạo điều kiện cho từng cây phát triển toàn diện.

IV. Giải pháp phát triển rừng trồng cao su bền vững

Để nâng cao tình hình sinh trưởng của rừng trồng cao su trên địa bàn huyện Bát Xát, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến. Sinh trưởng rừng trồng cao su cần được theo dõi thường xuyên thông qua các cuộc điều tra định kỳ. Cải thiện sinh trưởng chiều caosinh trưởng đường kính có thể đạt được bằng cách tối ưu hóa khả năng cung cấp nước và dinh dưỡng. Quản lý rừng trồng phải tập trung vào việc duy trì cấu trúc rừng hợp lý, kiểm soát dịch bệnh và sâu hại. Sinh trưởng đường kính tán lá cần được cải thiện thông qua tỉa cành hợp lý và cung cấp ánh sáng đủ. Xây dựng kế hoạch quản lý dài hạn là cần thiết để đảm bảo hiệu suất cao lâu dài.

4.1. Biện pháp kỹ thuật canh tác

Áp dụng công nghệ canh tác tiên tiến giúp cải thiện sinh trưởng chiều cao vút ngọnsinh trưởng đường kính của cây. Lựa chọn giống cao su có khả năng sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt là điều cần thiết. Sinh trưởng chiều cao dưới cành có thể được cải thiện bằng cách tỉa cành định kỳ và tăng cường độ ẩm đất. Bón phân cân bằng theo nhu cầu dinh dưỡng của cây giúp tăng tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng đất.

4.2. Quản lý và bảo vệ rừng trồng

Quản lý tích cực rừng trồng cao su bao gồm theo dõi tình hình sinh trưởng, phòng chống dịch bệnh và sâu hại, cắt tỉa cây hợp lý. Xây dựng hệ thống thoát nước để tránh ngập úng, đặc biệt ở các vị trí có độ dốc thấp. Thiết lập các tiêu chuẩn theo dõi sinh trưởng về đường kínhsinh trưởng chiều cao định kỳ nhằm đánh giá hiệu quả quản lý và điều chỉnh kế hoạch phát triển cho phù hợp.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU. Tổng quan đối tượng nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu cây Cao su trên thế giới. Cây Cao su (Hevea brasiliensis Mull Arg) có nguồn gốc từ Nam Mỹ, sau này được đi đưa trồng ở các nước Châu Á, Châu phi‹ Cây Cao su có khả năng thích ứng rộng, thích hợp chống chịu cao, là cây công nghiệp '©ó giá trị lớn.

Vì vậy những công trình nghiên cứu về cây Cao su. lược nhiều tác giả đềc cập tới. v® CV Năm 1873, những cố gắng nghiên chữ nghiệ đầu tiên trong việc trồng cây Cao su ra phạm vi Brazin đã được tiến hành. Sau một thời gian, 12 hạt giống đã nảy mầm tại Vườn thực vật Hoan, gia Kew.

Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để gieo trồng tại nhưng chúng đều chết. Đến năm 1975, sau những nghiên cứu tiếp theo có khoảng 20.000 ạt giống đã được gủi tới Kew trong đó có khoảng 4% hạt giống đã được nảy mầm. Năm 1876, những cây giống đã được gủi tới Ceylon và Yười thực vật tại Singapo. Sau đó, cây Cao.

su đã có mặt tại vườn thực Vật ở Buitenzorg, Malaysia vào năm 1893. Năm 1898, một đồn điền Cao 'đã được thành lập tại Malaysia. Đến nay phần lớn điện tích trồng Cao su nam tai Dong Nam Á và một số tại khu vực Châu Phi nhiệt đới. { 7 a Bên cạnh những mục tiêu tạo tuyển giống cây Cao su có năng suất mủ cao, kha nan; ae âu bệnh tốt và thích nghỉ với môi trường thì tiêu chí năng suất gỗ 0 š trở ảnh tiêu chí quan trọng trong chon giống Cao su vì gỗ nhu cầu Cao 2 à “cảng cao.

Để đáp ứng mục tiêu đó, Malaysia đã đặt muc tiéu tao tuyén giống Cao su đạt năng suất bình quân 3,5 tắn mủ/ha/năm và năng suất gỗ toàn cây dat 1,5 m°/c4y vao chu kì kinh doanh. Hiện nay, Indonesia là nước trồng Cao su lớn nhất trên Thế Giới. Tại nước này người ta thành lập các tổ chức hỗ trợ cho việc phát triển Cao su như: NES (Nuclear Eatate Schenmes — Kế hoạch đại điền hạt nhân) nhằm hộ trợ sự phát triển diện tích canh tác mới của Cây cao su cho thành phần nông dân nghèo không có đất. Tổ chức này ký hợp đồng với nhà nước và sử dụng đại điền làm hạt nhân để hộ trợ sự phát triển của tiểu điền xung quanh như xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ trồng và chăm sóc cây cho tới khi khai thác.

Năm 1899, Thái Lan cho nhập Cao su từ Java thuộc Indonesa về trồng tại tỉnh Trang, vùng Tây Nam, sau đó cây Cao su đã được lan sang. phía Nam và phía Đông của nước nước này. Ngày nay, Thái Lan đã Phát “triển nhân giống Cao su ra phía Bắc và Đông Bắc. Thái Lan cũng ‹ ⁄$yátô chức hỗ trợ việc phát triển Cao su tiểu điền như ORRAF (Office of ke Rubber "Auction Market — Chg đấu giá trung tam).2006 11, Trước năm 1990, Malaysia là nước trồng và sẵn xuất Cao su thiên nhiên hàng đầu thế giới, sản lượng Cao su đayếngthát là1.

Malaysia là một điển hình trong nghiên cứu chọn lọc và khuyến cáo giống Cao su thích nghỉ theo điều kiện sinh thái môi trường để tố ưu hóa tiềm năng của giống cây. Việc phân vùng aes dựa trên mức độ gây hại Cao su như bệnh nấm hồng, bệnh rụng lá phan TNG, kết héo đen đầu lá và bệnh rũng lá Corynesposa. › Án Độ cũng đã nef cia các - biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp để phát triển cay Cao su, ở ving truyén thống (từ vĩ độ 152— 209 bắc), kết quả đạt rất khả quan và nibs suất cây: Cao su có thể đạt được trên 1,5 tấn/ha/năm (S.Pall, 2006) (28] Trung C kiểu trồng Cao su rất đặc thù so vơi các nước khác. Các yếu tố bất l cây Cao su ở Trung Quốc là khí hậu mùa đông lạnh, đối với ñó Hải Nam thì thường xuyên đối diện với sự gây hại của gió bão, đẻ hạn chế tái hại của các yếu tố không thuân lợi, Trung Quốc đã nghiên cứu và áp dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác và tạo hình thích hợp đối với từng vùng trồng Cao su cụ thể.

Kết quả là năng suất của một số vùng như XíhuaBana thuộc tỉnh Vân Nam năng suất mủ đạt bình quân trên 2 tắn/ha/năm với giống PR 107, Rrim 600 và GTI. Hai giống mới có khả năng chống chu lạnh và khô hạn tốt là Vân Nghiên 77-2, Vân nghiên 77-4 (Xiong Daiqun và Jiang Jusheng, 2006) [29] Ngày nay, trên thế giới có su hướng phát triển Cao su mới đó là trồng Cao su theo mô hình nông lâm kết hợp để thay thế đàn cho mô hình trồng Cao su độc canh (Laxman Joshi, Eric penot, 2006) [26] : A 1. Tình hình nghiên cứu cây Cao su tại Viét Name Năm 1897, bác sỹ Yersin đã thu thập thành công cây. Gạo su vào Việt Nam và vườn Cao su đầu tiên được trồng tại Suối Diu >PNogprang.

Dau thé Kỹ tại một vùng Tây Nguyên, miền n Trung và fies vùng “pia Bac (Đăng Văn Vinh, 2000) [24] \ Vao nam 1976, dién tich Cao = fama, ta CÓ.600 ha cho sản lượng chỉ khoảng 40. Hơn 30 năm phát triển với chính sách và đầu tư đúng din của nhà nước, kết hợp với sự đóng góp của các thành phần kinh té khác ‘thaw và các cán bộ khoa học kỹ thuật, đến năm 2003 diện tích Cao suthuộc Tồấ công ty Cao su Việt Nam là 215.610 ha, đưa vào khai thac 173,14 bá: Với năng suất bình quân 1,51 tắn/ha/năm (Lê Hồng Tiễn, 2006). Đến cuối năi '2007, tổng điện tích cả nước đạt 549.000 ha, cho sản lượng 601.700 tấn, đạÊ năng suất bình quan 1,612 tắn/ha/năm. Năng suất trên điện tích do Tập doit “Công.

Nghiệp Cao su Việt Nam quản lý đạt 1,716 tắn/ha/năm, cao bơn năngsuất các nước cao hang đầu như Thái Lan, Indonesia, Malaysia vối 6điềư nh nhiên thuận lợi hơn Việt Nam, Song năng suất Cao su tiểu điền tại Việt Nấm ‘con thấp, bình quân 1,44 tắn/ha/năm. Giá trị xuất khẩu của Cao sử Vì ng những tăng về số lượng mà còn tăng cả về mặt chất lượng. Trong năm 2007, Việt Nam đã Xuất Khẩu 741.000 tấn Cao su ˆ15 chủng loại khác nhau mang về nguồn ngoại tệ gần 1,4 tỷ USD (Trần Thúy Hoa, 2008) [25] Sau 110 năm cây Cao su được thu nhập, hiện nay nước ta đang đứng thứ 6 trên thế giới về sản lượng Cao su thiên nhiên và thứ 4 xuất khẩu Cao su thiên nhiên. Trong các vùng trồng Cao su chính ở Việt Nam thì Đông Nam Bộ chiếm 67,4% về diện tích nhưng đóng góp đến 78,55% về sản lượng, đồng thời cũng là vũng đạt mức năng suất cao nhất nước.

Tây Nguyên và miền Trung là vùng có điều kiện khí hậu ít thuận lợi song cây Cao su vẫn phát triển tương đối tốt và đạt sản lượng bình quân tương ứng là 1. à1172 tan/ha/nam. Tac gia Téng Viét Thinh da cé công trình nghiên cứu đánh giá phân hạng sử dụng đất sử dụng trồng Cao su. Theo tác giả căn ú 'mức độ hạn chế của chỉ tiêu khí hậu (chế độ mưa, cân bằng nước, chế độ nhiệt, „ sương mù và tốc độ gió) và 10 chỉ tiêu đất (tầng dày, thành phan cơ gi .độ phì, sôi đá và độ dốc).

Áp dụng nguyên tắc của FAO để phân hạng sử dụng đất trồng Cao su gồm 2 hạng đất sử dụng phù hợp và 2 hạng đất không'phù hợp. Từ năm 1990 đến nay, tại các công ty Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã ứng dụng thành công trên diện tích rộng. Trên các diện tích áp dụng phân hạng đất trồng Cao su theo FAO, các cơ sở áp dụng để định suất đấu và khoán vườn cây hợp lý và hiệu quả hơn, không còn hiện tượng vườn Cao su bị thanh lý do trồng trên đất kém. Tiến bộ này được Tập đoàn côngnghiệp Cao su Viet Nam (VRG) chính thức đưa vào áp dụng trong toàn ngành (Tống Viết Thịnh, 2008) [18] Ngoài ra tác giả Tống Viết Thịnh cũng đã nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho cây Cao sử theo phương: pháp chuẩn đoán dinh dưỡng.

căn cứ vào mức độ thiếu hụt, thặng dư và tỷ đệ ban đối của từng nguyên tố dinh dưỡng qua việc phân tích và h giáf lượng dinh dưỡng trong đất và là trên vườn cây Cao ˆ su theo các ngéchu: căn cứ vào hiện trạng vườn cây (giống, năng suắt, ` sinh trưởng, lịch s Sóc và bốn phân vườn cây) đề đề xuất liều lượng và tỷ lệ các nguyên tố dinh dưỡng hợp lý, tạo ra sinh trưởng và năng suất mủ vườn cây đạt hiệu quả kinh tế - kỹ thuật tối ưu. Từ năm 2002 đến nay, đã ứng dụng thành công trên diện rộng tại công ty Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Trên các diện tích bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng đã mang lại hiêu quả: tiết kiệm phân bón, gia tăng, ôn định sinh trưởng và sản lượng mủ trong nhiều năm. Với các kết quả trên, từ năm 2004, VRG đã đưa chính thức kỹ thuật bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng vào quá trình của ngành (Tống Viết Thịnh, 2008) [19] Về kỹ thuật khai thác, chăm sóc cây Cao su cũng có nhiều tác giả nghiên cứu.

năm 2004, VRG đã xuất bản quy trình kỹ thuật cây Cao su. Trong quy trình này đã được trình bày rõ các biện pháp kỹ thuật trong quy trình sản xuất, quy trình khai thác mủ và chăm sóc cây Cao su, quy trình bảØ vệ thực. vật, phân hạng dat trồng cây Cao su. Những năm tiếp theo các nhà nghiễn cứu đã không ngừng đưa ra các cải tiến kỹ thuật nhăm nâng cao năng | 5 tất và sản lượng cây Cao su.

Tác giả Hà Văn Khương (2006) đã nghiên cứu dé ap dựng các tiến bộ khoa học — kỹ thuật vào vườn Cao su của Tổng công ty rege Viét Nam. Ở Việt Nam cây Cao su được pháttriển trên nhiều vùng khác nhau, ngoài Đông Nam Bộ thì có cả Tây Nguyên, đuÿên hải miền Trung và Tây Bắc. theo Nguyễn Thị Huệ (1997), Cao su là loài cây dais 'ngày, được đọc canh trên vùng có khí hậu nóng Ẩm nên đã có nhiều bệnh xuất hiện và gây hại làm ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng và san hag của cây Cao su. Tác giả Phan Thành Dũng đã theo dõi trong thời.

1996— 2005, có 7 loại bệnh gây hại chính đến sinh trưởng và sản h lượng cây. Cao su, trong đó có 3 loại mới xuất hiện là nứt vỏ do nấm Betrydiplodia~ theobromae pat (1998), bệnh rụng lá corynespora (1999) va nâu đo nấm phellinus (corner) G.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ