Tổng quan luận án

Tình trạng gia tăng tỷ lệ mổ lấy thai là một thực trạng sản khoa đáng chú ý tại nhiều quốc gia cũng như tại Việt Nam trong những thập kỷ gần đây. Sự phát triển của các phương tiện thăm dò chẩn đoán, phác đồ điều trị, kháng sinh thế hệ mới và chuyên ngành gây mê hồi sức đã góp phần giảm đáng kể tỷ lệ tử vong ở mẹ và con do phẫu thuật. Tuy nhiên, việc tỷ lệ mổ lấy thai tăng cao kéo theo sự gia tăng tương ứng của nhóm sản phụ mang thai có sẹo mổ cũ trên tử cung. Mang thai trên tử cung có sẹo mổ lấy thai là một thai kỳ nguy cơ cao, tiềm ẩn các tai biến sản khoa nghiêm trọng như nứt sẹo mổ, vỡ tử cung, rau tiền đạo, rau cài răng lược và tổn thương các cơ quan lân cận trong phẫu thuật.

Vấn đề chỉ định và thái độ xử trí đối với sản phụ có sẹo mổ lấy thai hiện vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất trong thực hành sản khoa. Tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang, dù đã có các nghiên cứu tổng thể về mổ lấy thai, nhưng đến thời điểm thực hiện đề tài vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào đánh giá toàn diện về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng cũng như thực tế xử trí ở nhóm sản phụ có sẹo mổ lấy thai khi thai đủ tháng. Luận án Bác sĩ Chuyên khoa cấp II của tác giả Lộc Quốc Phương (Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, 2016) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn này với hai mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của sản phụ có sẹo mổ lấy thai ở tuổi thai $\ge 37$ tuần tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang năm 2015 – 2016.
  2. Phân tích kết quả xử trí sản phụ có sẹo mổ lấy thai ở tuổi thai $\ge 37$ tuần tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang năm 2015 – 2016.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các sản phụ có sẹo mổ lấy thai cũ vào đẻ tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang, có tuổi thai từ 37 tuần trở lên, có hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin theo tiêu chuẩn nghiên cứu; loại trừ các trường hợp mổ lấy thai từ nơi khác chuyển đến, các trường hợp thai dị dạng hoặc thai chết lưu.
  • Phạm vi không gian: Các khoa lâm sàng (Khoa Đẻ, Khoa Sản I, Khoa Sản II) thuộc Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang (bệnh viện chuyên khoa Hạng I tuyến tỉnh với quy mô 450 giường bệnh theo kế hoạch năm 2015).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu từ ngày 01/09/2015 đến ngày 29/02/2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử phát triển của phẫu thuật mổ lấy thai, các biến đổi giải phẫu - sinh lý - mô bệnh học của tử cung có sẹo mổ, đồng thời tổng hợp các số liệu dịch tễ học về tỷ lệ mổ lấy thai chung và tỷ lệ mổ lại trên sẹo cũ qua các giai đoạn:

Lịch sử kỹ thuật mổ lấy thai

  • Thời kỳ cổ đại và trung đại: Người Ai Cập tiến hành mổ lấy thai từ 3000 năm trước Công Nguyên trên người mẹ mới chết hoặc hấp hối để cứu con. Năm 730 TCN, Hoàng đế La Mã Pompillius ban hành sắc lệnh chỉ chôn sản phụ tử vong sau khi đã lấy thai ra ngoài. Năm 1610, Jeremiah Trautmann (Saxony, Đức) thực hiện mổ trên người sống nhưng mẹ tử vong sau 25 ngày; đến năm 1794 ca mổ cứu sống cả mẹ và con đầu tiên được ghi nhận tại Virginia (Mỹ). Giai đoạn 1500–1769 chỉ ghi nhận 76 ca cứu sống mẹ; năm 1865 tỷ lệ tử vong do mổ lấy thai tại Châu Âu lên đến 85%, tại Áo là 100% trong giai đoạn 1780–1888.
  • Các cải tiến kỹ thuật: Năm 1876, Edueardo Porro thực hiện kỹ thuật mổ lấy thai kết hợp cắt tử cung bán phần và khâu mép cắt vào thành bụng để giảm nhiễm trùng và chảy máu. Năm 1882, Max Sanger rạch dọc thân tử cung và khâu phục hồi cơ (phương pháp cổ điển). Năm 1805, Osiander mô tả phẫu thuật rạch dọc đoạn dưới tử cung, phương pháp này sau đó được Frank cải tiến năm 1906 và được William, DeLee phổ biến. Năm 1926, Kerr đề xuất kỹ thuật rạch ngang đoạn dưới tử cung. Năm 1940, Fleming phát minh kháng sinh và từ thập niên 1950 các tiến bộ gây mê hồi sức đã nâng cao độ an toàn của phẫu thuật.
  • Tại Việt Nam: Năm 1956, mổ dọc đoạn dưới tử cung được áp dụng tại Bệnh viện Bạch Mai; sau đó Giáo sư Đinh Văn Thắng thực hiện kỹ thuật rạch ngang đoạn dưới tử cung, đặt nền móng cho kỹ thuật được áp dụng rộng rãi trên toàn quốc.

Diễn biến tỷ lệ mổ lấy thai qua các công trình công bố

Văn bản luận án đã tổng thuật số liệu của nhiều tác giả trong nước và quốc tế để minh chứng cho xu hướng gia tăng mổ lấy thai:

Giai đoạn / Năm Tác giả công bố Địa bàn / Bệnh viện Tỷ lệ mổ chung (%) Tỷ lệ mổ ở sản phụ có sẹo cũ (%)
1964 Đinh Văn Thắng, Nguyễn Thìn, Trần Đăng Tính Viện BVBMTSS 9,68 -
1964 Huỳnh Quế Phương Viện BVBMTSS - 60,10
1970 Dương Thị Cương Viện BVBMTSS 13,90 -
1976–1978 Vũ Quý Nhân Viện BVBMTSS - 30,00
1979 Lê Đình Liên Viện BVBMTSS - 68,72
1981–1983 Lê Điềm, Lê Hoàng Viện BVBMTSS 15,27 -
1974–1992 Nguyễn Thìn Viện BVBMTSS 20,25 74,21 (năm 1991)
1986 Đào Quang Trung Viện BVBMTSS - 64,32
1991–1993 Lê Điềm, Lê Hoàng Viện BVBMTSS 23,45 -
1992–1993 Bùi Hữu Chuân BVĐK Thái Bình 19,00 -
1990–1994 Nguyễn Đức Vy BVĐK Hải Dương 16,62 86,90
1995–1996 Tạ Xuân Lan, Nguyễn Thị Ngọc Khanh Viện BVBMTSS - 85,70
1995–1998 Đinh Văn Nhữ BVPS Nam Định 21,44 91,80
1998 Nguyễn Đức Hinh Viện BVBMTSS 34,90 -
1999–2000 Bùi Quang Tỉnh Viện BVBMTSS - 93,93
2000 Phạm Văn Oánh Viện BVBMTSS 35,10 91,60
2002 Vương Tiến Hòa BVPSTƯ 36,97 -
2002 Nguyễn Thùy Trang BVPSTƯ - 94,50
2004 Võ Thị Thu Hà BVPS Tiền Giang 31,00 -
2005 Phạm Thu Xanh BVPSTƯ 39,71 94,35
2012 Nguyễn Thị Bình BVĐKTƯ Thái Nguyên 46,30 -
2013 Đào Thanh Kiều BVPS Hà Nội 53,86 98,52
2014 Nguyễn Thị Thu Hằng BVSN Bắc Giang 23,50 98,20
  • Số liệu quốc tế: Scotland (Francis, 1989–1990: 14,20%); Anh (Mark Hill, 1999: 21,50%); Pháp (1972–1981: 6% lên 11%, gần đây 20–25%; Mark Hill, 1999: 17,30%); Mỹ (1988: 25%, 2004: 29,10%); Đan Mạch (14,00%), Na Uy (12,60%), Thụy Điển (12,20%), Phần Lan (15,10%), Italia (12,60%), Thổ Nhĩ Kỳ (Koc, 2003: 26,10%).

Vị trí của luận án nằm ở việc cung cấp dữ liệu thực chứng cấp địa phương tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015–2016, phân tích thực trạng chỉ định mổ lại gần như tuyệt đối, từ đó đánh giá sự phù hợp của các quyết định lâm sàng và các yếu tố liên quan đến an toàn sản khoa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và giải phẫu - sinh lý học

  • Cơ sở giải phẫu mô học: Khảo sát thực nghiệm của Schawarz (1938) và Siegel (1952) trên chó cho thấy ban đầu sẹo tử cung gồm tổ chức xơ và tế bào xơ non, sau đó các sợi biến thành sợi cơ xen lẫn cơ tử cung; phản ứng nguyên bào sợi (Fibroblastes) giữ vai trò trung tâm. Tại vùng sẹo, lưới mao mạch kém phát triển, biểu mô phủ mặt trong là biểu mô trụ tiết nhầy có thể lồng sâu vào lớp cơ (tương tự hình thái rau cài răng lược).
  • Cơ sở sinh lý học cơn co: Cơ tử cung co bóp dựa trên tương tác cơ học actin-myosin và hiện tượng trao đổi ion $Ca^{2+}$. Sẹo cơ tử cung gồm nhiều tổ chức liên kết sợi cơ mong manh, làm giảm tính đồng bộ của dẫn truyền cơn co. Theo Surean, Csapo và Jung, sẹo ở đoạn eo tạo sức đối kháng làm giảm cường độ lan truyền sóng co bóp từ thân xuống cổ tử cung, đồng thời làm giảm thụ thể thần kinh nội tại, dễ dẫn đến rối loạn cơn co hoặc ngưng trệ chuyển dạ.
  • Phân loại chỉ định mổ lấy thai: Luận án phân chia chỉ định mổ trên sản phụ có sẹo cũ thành 2 nhóm:
    • Chỉ định tuyệt đối: Các trường hợp chỉ có phương thức mổ lấy thai mới đảm bảo an toàn cho mẹ và con (sẹo mổ cũ kèm khung chậu hẹp; sẹo mổ $\ge 2$ lần; khoảng cách mổ $< 24$ tháng; sẹo mổ dính; sẹo mổ ở thân tử cung).
    • Chỉ định tương đối: Các trường hợp có sẹo mổ cũ kết hợp từ 2 lý do đẻ khó trở lên thuộc về phía người mẹ (bệnh lý nội khoa, sản khoa, bất thường đường sinh dục), phía thai nhi (ngôi bất thường, thai suy, thai to, thai già tháng) hoặc phần phụ của thai (rau tiền đạo, rau bong non, thiểu ối, đa ối, ối vỡ non, ối vỡ sớm).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
  • Cỡ mẫu và công thức tính: Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang: $$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \times \frac{p \times q}{d^2}$$ Trong đó:
    • Chọn mức ý nghĩa $\alpha = 0,05 \implies Z_{1-\alpha/2} = 1,96$.
    • Tỷ lệ ước tính $p = 0,64$ (tham chiếu từ nghiên cứu của Đào Quang Trung năm 1986 ghi nhận tỷ lệ mổ lại ở sản phụ có sẹo cũ là 64,32%).
    • $q = 1 - p = 0,36$.
    • Sai số tuyệt đối mong muốn $d = 0,04$.
    • Cỡ mẫu lý thuyết tính toán: $n = 553$ sản phụ.
    • Cỡ mẫu thực tế thu thập: Chọn mẫu chủ đích toàn bộ theo thời gian nghiên cứu, đạt $N = 568$ sản phụ đủ tiêu chuẩn.
  • Kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu: Thu thập thông tin qua phiếu điều tra kết hợp khai thác hồ sơ bệnh án nội trú. Phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0 và Epi-info 7, biểu thị qua các chỉ số tần số và tỷ lệ phần trăm (%).
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề cương được Hội đồng Chuyên khoa II Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên thông qua và được sự chấp thuận của Ban Giám đốc Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang; thông tin bệnh nhân được mã hóa hoàn toàn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày chi tiết về:

  • Lịch sử hình thành và phát triển của phẫu thuật mổ lấy thai trên thế giới và tại Việt Nam.
  • Đặc điểm giải phẫu, sinh lý của tử cung khi mang thai (thay đổi trọng lượng từ 50–60g lên 1000g; dung tích từ 1–4ml lên 4000–5000ml; biến đổi cấu trúc 3 lớp cơ thân tử cung và sự thành lập đoạn dưới tử cung dài khoảng 10cm vào cuối chuyển dạ).
  • Cấu trúc mô bệnh học của sẹo mổ tử cung và nguy cơ nứt sẹo, vỡ tử cung (tỷ lệ vỡ và nứt sẹo được ghi nhận từ 0,6% đến 1,3%).
  • Các tai biến trong mổ (chảy máu chiếm 50–70% tai biến và chiếm 70–100% nguyên nhân tử vong mẹ; rách bàng quang, thắt/cắt niệu quản, tổn thương ruột, nhiễm khuẩn 25–35%, tắc ruột do dính) và tai biến ở trẻ sơ sinh (rạch vào thai, ngạt, gãy xương, chấn thương sọ não).
  • Hậu quả sản phụ khoa lâu dài của mổ lấy thai: chửa ngoài tử cung, chửa tại vết mổ, sảy thai, đẻ non, rau tiền đạo, rau cài răng lược, lạc nội mạc tử cung, viêm dính phần phụ, rò bàng quang, rong kinh rong huyết.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang:

  • Giới thiệu thực địa: Bệnh viện tiếp nhận khám 129.529 lượt và điều trị nội trú 41.632 bệnh nhân trong năm 2015; tổng số đẻ là 14.074 ca, trong đó mổ lấy thai 3.864 ca (chiếm 27,5%). Tổng số biên chế 357 người với 93 bác sĩ (49 bác sĩ có trình độ sau đại học).
  • Xây dựng tiêu chuẩn lựa chọn, tiêu chuẩn loại trừ cụ thể.
  • Hệ thống hóa các biến số nghiên cứu về mẹ (tuổi, nghề nghiệp, nơi sống, tiền sử mổ), thai và phần phụ (tuổi thai, ngôi, trọng lượng, nước ối, bánh rau), các chỉ định phẫu thuật (tuyệt đối, tương đối), kỹ thuật mổ (đường rạch thành bụng, đường rạch tử cung, phẫu thuật phối hợp), thời gian phẫu thuật, thời gian điều trị và biến chứng chu phẫu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 tổng hợp toàn bộ kết quả định lượng trên 568 sản phụ có sẹo mổ lấy thai:

1. Đặc điểm chung và tiền sử của đối tượng nghiên cứu

  • Cách đẻ: 565 trường hợp mổ lấy thai (99,5%) và 03 trường hợp đẻ đường âm đạo (0,5%).
  • Độ tuổi sản phụ: Nhóm 20–35 tuổi chiếm đa số với 512 sản phụ (90,1%); nhóm $\ge 35$ tuổi có 55 sản phụ (9,7%); nhóm $< 20$ tuổi có 01 sản phụ (0,2%). Tuổi thấp nhất là 19, cao nhất là 43, tuổi trung bình đạt $29,1 \pm 4,2$ tuổi.
  • Nghề nghiệp và địa bàn cư trú: Công nhân chiếm tỷ lệ cao nhất với 202 người (35,6%), tiếp theo là cán bộ 159 người (28,0%), nông dân 129 người (22,7%) và nghề khác 78 người (13,7%). Sản phụ sinh sống tại khu vực nông thôn chiếm 448 người (78,9%), thành thị chiếm 120 người (21,1%).
  • Tiền sử mổ lấy thai: 488 sản phụ mổ cũ 1 lần (85,9%); 77 sản phụ mổ cũ 2 lần (13,6%); 03 sản phụ mổ cũ $\ge 3$ lần (0,5%).
  • Khoảng cách mổ cũ đến lần mang thai này: Nhóm có khoảng cách từ 24 đến 60 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất với 68,5%.
  • Nguyên nhân mổ lần trước: Do nguyên nhân từ thai chiếm 55,1%; do nguyên nhân từ mẹ chiếm 33,6%; do phần phụ của thai chiếm 9,5%.
  • Tuyến y tế thực hiện mổ lần trước: Tuyến tỉnh chiếm 357 ca (62,9%); tuyến huyện chiếm 209 ca (36,8%); tuyến trung ương chiếm 02 ca (0,4%).

2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng lần mang thai này

  • Tuổi thai: Tuổi thai từ 37 đến 41 tuần chiếm 563 ca (99,1%); tuổi thai $> 41$ tuần có 03 ca (0,5%); không rõ kinh cuối cùng có 02 ca (0,4%).
  • Ngôi thai: Ngôi chỏm chiếm 544 ca (95,8%); ngôi mông chiếm 15 ca (2,6%); các ngôi khác chiếm 09 ca (1,6%).
  • Tình trạng thai và ối: Thai phát triển bình thường trong buồng tử cung chiếm 447 ca (78,7%); thai to ($\ge 3500\text{g}$) chiếm 113 ca (19,9%); thai kém phát triển chiếm 08 ca (1,4%). Chỉ số nước ối bình thường chiếm 558 ca (98,2%), đa ối/dư ối chiếm 07 ca (1,3%), thiểu ối chiếm 03 ca (0,5%). Tình trạng màng ối còn nguyên khi vào viện chiếm 528 ca (93,0%), ối vỡ chiếm 40 ca (7,0%).
  • Bất thường trong chuyển dạ: Ghi nhận 01 ca ra máu âm đạo (0,2%) và 01 ca sa chi (0,2%).

3. Phân tích kết quả xử trí và kỹ thuật phẫu thuật

  • Thời điểm mổ: Mổ khi đã có chuyển dạ chiếm 528 ca (93,5%); mổ chủ động khi chưa chuyển dạ chiếm 37 ca (6,5%).
  • Đường rạch thành bụng: Đường ngang trên khớp vệ chiếm 75,2%; đường trắng giữa dưới rốn chiếm 24,8%.
  • Phương pháp rạch cơ tử cung: Rạch ngang đoạn dưới tử cung chiếm 564 ca (99,8%); rạch dọc thân tử cung chỉ có 01 ca (0,2%).
  • Chỉ định mổ lấy thai tuyệt đối ($n = 148$, chiếm 26,2% tổng số mẫu):
    • Sẹo mổ cũ $\ge 2$ lần: 75 ca (13,3%).
    • Khoảng cách sẹo mổ $< 24$ tháng: 43 ca (7,6%).
    • Sẹo mổ cũ kèm khung chậu hẹp: 21 ca (3,7%).
    • Sẹo mổ dính: 08 ca (1,4%).
    • Sẹo mổ ở thân tử cung: 01 ca (0,2%).
  • Chỉ định mổ tương đối do mẹ:
    • Do đường sinh dục ($n = 380$, chiếm 67,2%): Tử cung có sẹo mổ cũ đơn thuần chiếm 377 ca (66,7%); tử cung dị dạng chiếm 03 ca (0,5%).
    • Do bệnh lý sản khoa của mẹ ($n = 18$, chiếm 3,2%): Tiền sản giật 10 ca (1,8%); rau tiền đạo 07 ca (1,2%); bệnh lý sản khoa khác 01 ca (0,2%).
    • Do bệnh lý nội khoa của mẹ ($n = 19$, chiếm 3,4%): Bệnh lý nội khoa khác (viêm gan B, viêm gan C, HIV, thiếu máu) 13 ca (2,3%); bệnh tim 02 ca (0,4%); tăng huyết áp 02 ca (0,4%); đái tháo đường 01 ca (0,2%); thiếu máu 01 ca (0,2%).
  • Thông số phẫu thuật và hậu phẫu:
    • Thời gian phẫu thuật trung bình: $57,23 \pm 8,9$ phút.
    • Thời gian nằm viện điều trị trung bình: $6,36 \pm 0,8$ ngày.
    • Tình trạng ổ bụng: Có hiện tượng dính trong phẫu thuật chiếm 162 ca (28,67%); không dính chiếm 403 ca (71,33%).
  • Các phẫu thuật kết hợp trong mổ: Gỡ dính bàng quang 162 ca (28,7%); đình sản 03 ca (0,5%); thắt động mạch tử cung 03 ca (0,5%); bóc nhân xơ tử cung 01 ca (0,2%); cắt tử cung bán phần 01 ca (0,2%).
  • Tai biến và biến chứng:
    • Tai biến trong mổ: Chảy máu trong mổ 11 ca (1,9%); tổn thương bàng quang 01 ca (0,2%); tổn thương ruột 01 ca (0,2%).
    • Biến chứng sau mổ: Nhiễm trùng vết mổ 03 ca (0,5%); đờ tử cung chảy máu 02 ca (0,4%); chảy máu vết mổ 02 ca (0,4%).
  • Kết quả sơ sinh: Trọng lượng sơ sinh từ $2500\text{g}$ đến $< 3500\text{g}$ chiếm 447 trẻ (78,7%); trọng lượng $\ge 3500\text{g}$ chiếm 113 trẻ (19,9%); trọng lượng $< 2500\text{g}$ có 08 trẻ (1,4%). Toàn bộ 568 trẻ sinh ra (cả nhóm mổ và đẻ âm đạo) đều đạt chỉ số Apgar $> 7$ điểm, không có trường hợp nào bị ngạt sơ sinh (tỷ lệ ngạt 0%).

Chương 4: Bàn luận

Tác giả đối chiếu kết quả nghiên cứu với các y văn trong nước và quốc tế:

  • Về tỷ lệ mổ lấy thai lại (99,5%): Tỷ lệ này tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang tương đương với kết quả của Đào Thanh Kiều tại BVPS Hà Nội năm 2013 (98,52%) và Nguyễn Thị Thu Hằng tại chính bệnh viện năm 2014 (98,2%), cao hơn đáng kể so với các giai đoạn trước (Phạm Văn Oánh năm 2000 là 91,6%; Nguyễn Thùy Trang năm 2002 là 94,5%). Luận án trích dẫn quan điểm của Đại học Oxford (Mỹ) về định kiến "đã mổ đẻ một lần thì luôn luôn phải mổ lại", cùng các phân tích của Cunningham về các yếu tố thúc đẩy: tuổi sản phụ tăng, giảm áp dụng thủ thuật đường dưới, tâm lý e ngại kiện tụng của nhân viên y tế và việc theo dõi liên tục bằng monitoring sản khoa. Ngoài ra, nghiên cứu của Gould và Davey tại California cũng chỉ ra mối tương quan giữa thu nhập kinh tế và tỷ lệ mổ lấy thai.
  • Về đặc điểm nhân khẩu và lâm sàng: Tuổi trung bình $29,1$ tuổi phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Quế năm 2014 ($27,4 - 28,5$ tuổi, nhóm 20–35 tuổi chiếm 85,4%). Tỷ lệ mổ ở nhóm công nhân (35,6%) và cán bộ (28,0%) cao hơn nông dân (22,7%), phù hợp với nhận định của Nguyễn Thị Thắm (2003). Tỷ lệ sản phụ sống ở nông thôn chiếm đa số (78,9%) phản ánh đặc thù địa bàn Bắc Giang.
  • Về tiền sử và chỉ định: Tỷ lệ mổ cũ 1 lần chiếm ưu thế (85,9%), mổ cũ $\ge 2$ lần chiếm 14,1% (giảm so với các mốc lịch sử, phản ánh ý thức tránh thai và phòng ngừa tai biến). Nhóm chỉ định mổ do đường sinh dục (tử cung có sẹo mổ cũ) chiếm 67,2%, cùng với sự gia tăng của nhóm thai to (19,9%) là các yếu tố thực tế chi phối chỉ định phẫu thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả chính rút ra từ nghiên cứu

  1. Luận án đã phản ánh tỷ lệ can thiệp mổ lấy thai ở sản phụ có sẹo mổ cũ tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang giai đoạn 2015–2016 là 99,5%, trong khi tỷ lệ đẻ đường âm đạo chỉ đạt 0,5%.
  2. Phần lớn sản phụ mang thai đủ tháng có sẹo mổ cũ nằm trong độ tuổi sinh đẻ tối ưu từ 20–35 tuổi (90,1%), có tiền sử mổ 1 lần (85,9%), khoảng cách mổ từ 24–60 tháng (68,5%), mang thai ngôi chỏm (95,8%) và thai phát triển bình thường (78,7%).
  3. Chỉ định mổ lấy thai tuyệt đối chiếm 26,2% (chủ yếu do sẹo mổ $\ge 2$ lần chiếm 13,3% và khoảng cách mổ $< 24$ tháng chiếm 7,6%). Nhóm chỉ định tương đối chiếm tỷ lệ vượt trội, trong đó lý do có sẹo mổ cũ đơn thuần chiếm 66,7%.
  4. Quy trình phẫu thuật thực hiện an toàn với 99,8% rạch ngang đoạn dưới tử cung, 75,2% rạch ngang trên vệ; thời gian mổ trung bình $57,23$ phút, ngày nằm viện trung bình $6,36$ ngày. Tai biến chảy máu trong mổ thấp (1,9%), tổn thương bàng quang và ruột hiếm gặp (0,2% mỗi loại), nhiễm trùng vết mổ 0,5% và tỷ lệ ngạt sơ sinh là 0%.

Đóng góp thực tiễn và kiến nghị

  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học và lâm sàng cụ thể về việc xử trí sẹo mổ lấy thai tại một bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, phản ánh thực trạng chỉ định mổ lại gần như thường quy trên lâm sàng.
  • Kiến nghị thực hành:
    • Cần nâng cao trình độ chẩn đoán, đánh giá kỹ lưỡng các điều kiện tiên lượng để xem xét chỉ định thử thách đẻ đường âm đạo ở những sản phụ mổ cũ 1 lần, sẹo mổ đoạn dưới, khoảng cách mang thai trên 24 tháng và không kèm yếu tố đẻ khó phối hợp.
    • Tăng cường tư vấn cho sản phụ và gia đình nhằm giảm bớt tâm lý lo lắng và yêu cầu mổ chủ động không có chỉ định y khoa.
    • Chú trọng kỹ thuật phẫu thuật vô khuẩn, thao tác gỡ dính cẩn trọng (đặc biệt là gỡ dính bàng quang chiếm 28,7%) để phòng ngừa tổn thương tạng rỗng và mất máu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang tại một trung tâm y tế duy nhất (Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang) trong khoảng thời gian 6 tháng (từ tháng 9/2015 đến tháng 2/2016).
    • Phương pháp thu thập dựa trên hồi cứu và trích xuất hồ sơ bệnh án, phụ thuộc vào mức độ chi tiết của việc ghi chép bệnh án nội trú.
    • Số lượng sản phụ được theo dõi đẻ đường âm đạo rất ít (chỉ có 03 ca, chiếm 0,5%), do đó chưa đủ dữ liệu so sánh đối chứng chuyên sâu giữa hai nhóm can thiệp mổ lại và nhóm sinh ngả âm đạo sau mổ lấy thai (VBAC).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Cần có các nghiên cứu tiến cứu đa trung tâm với thời gian theo dõi dài hơn.
    • Triển khai các nghiên cứu đánh giá quy trình theo dõi chuyển dạ đường âm đạo có kiểm soát trên sản phụ có sẹo mổ cũ đủ điều kiện, nhằm xây dựng tiêu chí sàng lọc và chỉ định an toàn, góp phần hạ thấp tỷ lệ mổ lại không cần thiết.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo thực tiễn cho các đối tượng sau:

  • Bác sĩ chuyên khoa Sản phụ khoa: Tham khảo số liệu về phân bố các chỉ định mổ tuyệt đối/tương đối, tỷ lệ dính ổ bụng (28,67%), các phẫu thuật kết hợp (gỡ dính bàng quang, đình sản, thắt động mạch tử cung) và các tai biến phẫu thuật để phục vụ công tác tiên lượng và xử trí lâm sàng.
  • Nhà quản lý y tế và lãnh đạo bệnh viện chuyên khoa: Cung cấp bằng chứng thực tế về xu hướng mổ lấy thai lại tại tuyến tỉnh, hỗ trợ xây dựng quy chế chuyên môn, quy trình giám sát chỉ định mổ và kế hoạch đào tạo nhân lực phẫu thuật - gây mê hồi sức.
  • Học viên sau đại học và sinh viên y khoa: Nguồn tư liệu tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trong sản khoa, cách tính cỡ mẫu và hệ thống hóa lý thuyết giải phẫu - mô học của sẹo mổ tử cung.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mổ lấy thai ở sản phụ có sẹo mổ cũ trong nghiên cứu này là bao nhiêu?

Theo kết quả nghiên cứu trên 568 sản phụ có sẹo mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang (2015–2016), tỷ lệ mổ lấy thai là 99,5% (565 sản phụ), tỷ lệ đẻ đường âm đạo chỉ chiếm 0,5% (03 sản phụ).

2. Các chỉ định mổ lấy thai tuyệt đối chiếm tỷ lệ bao nhiêu và gồm những nguyên nhân nào?

Nhóm chỉ định tuyệt đối có 148 sản phụ, chiếm 26,2% tổng số mẫu nghiên cứu. Các nguyên nhân bao gồm: sản phụ có sẹo mổ cũ $\ge 2$ lần (13,3%), sẹo mổ cũ $< 24$ tháng (7,6%), sẹo mổ cũ kèm khung chậu hẹp (3,7%), sẹo mổ dính (1,4%) và sẹo mổ ở thân tử cung (0,2%).

3. Phương pháp phẫu thuật và đường rạch tử cung nào được áp dụng phổ biến nhất?

Phương pháp phẫu thuật rạch ngang đoạn dưới tử cung được áp dụng cho 564 trường hợp (chiếm 99,8%), chỉ có 01 trường hợp mổ dọc thân tử cung (chiếm 0,2%). Về đường rạch thành bụng, đường ngang trên khớp vệ chiếm 75,2% và đường trắng giữa dưới rốn chiếm 24,8%.

4. Tỷ lệ gặp dính ổ bụng và các tai biến chu phẫu trong nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?

Hiện tượng dính trong ổ bụng gặp ở 162 trường hợp (28,67%), trong đó phẫu thuật gỡ dính bàng quang chiếm 28,7%. Tai biến trong mổ gồm có chảy máu (1,9%), tổn thương bàng quang (0,2%) và tổn thương ruột (0,2%). Biến chứng sau mổ gồm nhiễm trùng vết mổ (0,5%), đờ tử cung chảy máu (0,4%) và chảy máu vết mổ (0,4%).

5. Kết quả đánh giá tình trạng trẻ sơ sinh sau sinh như thế nào?

Về cân nặng, 78,7% trẻ có trọng lượng từ $2500\text{g}$ đến $< 3500\text{g}$, 19,9% trẻ có trọng lượng $\ge 3500\text{g}$ và 1,4% trẻ $< 2500\text{g}$. Đánh giá theo chỉ số Apgar, 100% trẻ sinh ra có chỉ số Apgar $> 7$ điểm, không ghi nhận trường hợp nào bị ngạt sơ sinh.


Kết luận

Luận án của tác giả Lộc Quốc Phương đã mô tả chi tiết đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích thực trạng xử trí trên 568 sản phụ có sẹo mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang. Kết quả cho thấy tỷ lệ mổ lại chiếm tới 99,5%, trong đó nhóm chỉ định tương đối do sẹo mổ cũ chiếm ưu thế, phản ánh tâm lý an toàn sản khoa và thực tiễn xử trí phổ biến tại tuyến tỉnh. Mặc dù phẫu thuật đạt kết quả tốt với tỷ lệ biến chứng thấp và 100% trẻ không bị ngạt, công trình đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các tiêu chuẩn lâm sàng nhằm chọn lọc các trường hợp đủ điều kiện sinh ngả âm đạo, hướng tới tối ưu hóa chỉ định phẫu thuật.