CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Báo cáo tài chính Để định nghĩa về BCTC, có nhiều giác độ tiếp cận. Từ giác độ của người lập, BCTC (một trong những sản phẩm của báo cáo kế toán) là hình thức biểu hiện cụ thể của phương pháp tổng hợp - cân đối trong ghi chép, phản ánh các mặt thuộc hoạt động tài chính của đơn vị (nên được gọi là BCTC [17, tr.
86]) và là đầu ra của qui trình kế toán tài chính. Từ giác độ người sử dụng, BCTC là phương tiện cung cấp thông tin tài chính hữu ích để ra quyết định kinh tế. Từ đó có thể định nghĩa BCTC là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán tài chính, biểu hiện khái quát dưới hình thức hệ thống các bộ phận báo cáo có mối liên hệ mật thiết với nhau nhằm cung cấp những thông tin phù hợp, đáng tin cậy, giúp người sử dụng làm cơ sở để nhận xét, đánh giá và ra quyết định. Theo Viện kế toán công chứng Hoa kỳ (AICPA) [20, tr.
5] [25] thì: “Hệ thống BCTC phản ánh sự kết hợp của những sự kiện được ghi nhận, những nguyên tắc kế toán và những đánh giá của cá nhân, mà trong đó những đánh giá và nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng chủ yếu đến việc ghi nhận các sự kiện. Những đánh giá đúng đắn tuỳ thuộc vào khả năng và sự trung thực của người lập báo cáo, đồng thời phụ thuộc vào sự tuân thủ đối với những nguyên tắc kế toán đã được chấp nhận rộng rãi”. Theo CMKT số 01- Chuẩn mực chung [2, tr. 8] thì BCTC được định nghĩa là “BCTC phản ảnh tình hình tài chính của DN bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của BCTC”.
BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một DN, là những bảng tổng hợp được lập cho các đối tượng Luan van 9 bên ngoài và các nhà quản lý ở đơn vị phản ánh tổng quát về các đối tượng của kế toán, như: báo cáo cân đối giữa tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu tại thời điểm cuối kỳ kế toán (Bảng cân đối kế toán1), báo cáo cân đối giữa doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ của một kỳ kế toán (Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh), cân đối giữa các dòng tiền vào và dòng tiền ra (Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ). Các thông tin được cung cấp trên BCĐKT, BCKQHĐKD, BCLCTT cùng với các thông tin trình bày trong Bản thuyết minh BCTC giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền [2, tr. Vai trò của báo cáo tài chính Vai trò của BCTC sẽ được thể hiện khác nhau tuỳ theo đặc trưng của từng quốc gia, có thể thay đổi theo từng điều kiện lịch sử cụ thể, bởi lẽ môi trường kế toán luôn chịu sự tác động của môi trường kinh tế- chính trị- xã hội với các yếu tố như đặc điểm hệ thống luật pháp và thuế, đặc điểm nền văn hoá giáo dục và xu hướng hoà hợp trong tiến trình toàn cầu hoá. Tuy nhiên, BCTC phải có nhiệm vụ hướng đến mục tiêu đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng, những người có quan hệ lợi ích với DN, kể cả bên trong hay bên ngoài.
Trong thực tế, lợi ích mang lại từ BCTC đối với các nhóm đối tượng sử dụng có thể khác nhau. Ở nước ta, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế vĩ mô thông qua hệ thống các chính sách kinh tế - tài chính và pháp luật, do đó việc soạn thảo và trình bày BCTC bị chi phối bởi các chính sách, chế độ tài chính - kế toán và yêu cầu của các luật kinh tế nói chung và thuế nói riêng. Các thông tin trên BCTC được yêu cầu trình bày khá chi tiết nhằm cung cấp những thông tin hữu ích đáp ứng được yêu cầu quản lý của các cơ quan tài chính, thống kê, thuế, bộ kế hoạch và đầu tư. Như vậy, 1 Được gọi là “Báo cáo về vị trí tài chính” trong Chuẩn mực kế toán quốc tế Luan van 10 yêu cầu của Nhà nước về thông tin kế toán đã chiếm quyền ưu tiên hơn so với các đối tượng sử dụng khác.
Tuy nhiên, BCTC được xây dựng cũng phải đảm bảo thoả mãn các tính chất: dễ hiểu, thích hợp, đáng tin cậy và so sánh được, nhằm cung cấp thông tin một cách trung thực và hợp lý cho các đối tượng sử dụng khác như ngân hàng, nhà đầu tư, nhà quản trị DN, khách hàng, nhà cung cấp… Đối với ngân hàng, đối tượng cho vay vốn chủ yếu của DN, BCTC đóng vai trò cung cấp thông tin quan trọng để bộ phận cung cấp tín dụng tiến hành phân tích tài chính DN. Dựa trên BCTC, nhà cung cấp tín dụng sẽ phân tích khả năng thanh toán, dự đoán các dòng tiền, đánh giá khả năng sinh lời trong dài hạn cũng như các nguồn lực đảm bảo khả năng đáp ứng các khoản thanh toán cố định (tiền lãi, trả nợ gốc.) của DN, trên cơ sở đó sẽ ảnh hưởng quan trọng đến việc ra quyết định nên cho vay hay không đối với DN. Đối với khách hàng hay nhà cung cấp, thông tin từ BCTC là cơ sở để đánh giá khả năng tiếp tục hoạt động, tính ổn định của DN để ra quyết định quan hệ thương mại với DN. Đối với các công ty cổ phần, do đặc thù của công ty đối vốn, các cổ đông của công ty rất cần được thông tin một cách kịp thời về thực trạng tài chính của công ty, đặc biệt là các thông tin tài chính về khả năng sinh lợi và rủi ro tiềm tàng liên quan đến vốn đầu tư.
Họ cần những thông tin để xác định xem khi nào thì nên mua, giữ lại hay nên bán các khoản đầu tư cũng như các thông tin về khả năng thanh toán các khoản cổ tức của công ty. Các BCTC là phần cuối cùng của Báo cáo thường niên cung cấp cho các cổ đông công ty, nhưng lại được xem là quan trọng hàng đầu, là phần cốt lõi của một báo cáo thường niên, vì hầu hết thông tin mà nhà đầu tư quan tâm hay muốn có đều nằm ở đây. Như vậy, vai trò quan trọng của thông tin trình bày trên BCTC ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình ra quyết định của nhiều đối tượng sử dụng BCTC khác nhau. Nếu thông tin trên BCTC sai lệch, bị “bóp méo” theo mục tiêu chủ Luan van 11 quan của người lập BCTC, sẽ có nhiều quyết định kinh tế sai lầm được thực hiện gây tổn thất to lớn trong kinh tế, làm mất niềm tin của nhà đầu tư.
Nhìn nhận vai trò của BCTC ảnh hưởng đến sự trình bày BCTC từ hai giác độ, nếu để đáp ứng yêu cầu pháp lý về cung cấp thông tin của DN: thông tin trình bày trên BCTC thường theo hướng tối thiểu hoá theo quy định, dưới giác độ đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin: thông tin trên BCTC trình bày theo hướng mở, đa dạng theo nhu cầu [16, tr. Các quan điểm soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính Với vai trò cung cấp thông tin quan trọng cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau, BCTC cần phải được soạn thảo và trình bày dựa trên một cơ sở lý thuyết như thế nào? Hiện nay trên thế giới có hai quan điểm như sau [14]: Quan điểm tuân thủ luật pháp: Theo quan điểm này, các BCTC được soạn thảo theo một luật quy định, bất chấp việc tuân thủ những luật lệ đó có đi ngược lại thực tế kinh doanh hay không. Quan điểm này chú trọng nhiều hơn đến việc bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ và những người cho vay cao hơn quyền lợi của các nhà đầu tư, việc xác định các khoản tiền thuế mà DN phải đóng, từ đó dẫn đến những qui định rất chi tiết về đo lường thu nhập, đánh giá tài sản và cách ghi chép các khoản mục trong BCTC. Điều này có nghĩa là các BCTC phải được soạn thảo, sử dụng vì lợi ích của các cơ quan quản lý tài chính hơn là cho những người sử dụng khác.
Theo đó, kiểm toán viên phải soát xét BCTC có được lập đúng theo luật pháp hay không (hơn theo quan điểm trung thực và hợp lý). Quan điểm thương mại hợp lý Theo quan điểm này, chỉ có một quy định không thể vi phạm đó là các BCTC phải đưa ra một bức tranh rõ ràng, hiện thực về kết quả hoạt động và tình hình tài chính của DN báo cáo. Với quan điểm này, việc quan trọng là cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, những người này được xem là đối Luan van 12 tượng sử dụng chủ yếu BCTC. Các BCTC đưa ra một quan điểm thương mại hợp lý về các vấn đề hoạt động kinh doanh của một công ty.
Vì thế, khuôn mẫu luật pháp ít cứng nhắc hơn và các yêu cầu về thuế không quyết định hình thức của BCTC. Nhìn chung, việc thiết lập các chuẩn mực là trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn và điều đó làm cho hệ thống này linh hoạt hơn để thích ứng với những tình huống khác nhau. Sự linh động này cũng chỉ cho thấy ở mức độ từng đơn vị và kiểm toán viên có thể sử dụng sự phán đoán nhiều hơn để đưa ra ý kiến của mình, vốn được hướng đến "sự trình bày hợp lý". Trong một số trường hợp, khi nguyên tắc trung thực và hợp lý được coi là yêu cầu về luật pháp (như ở Anh chẳng hạn), thì nó sẽ bác bỏ những yêu cầu pháp lý khác nếu bức tranh thương mại hợp lý bị sai lệch do tuân thủ các yêu cầu pháp lý khác đó.
Tuy nhiên, sự khác nhau giữa hai quan điểm trên đang ngày càng mờ dần, do khuynh hướng của sự hoà hợp quốc tế mà khuynh hướng đó được thúc đẩy bởi các nhân tố của nền kinh tế vĩ mô, như là sự xuất hiện của thị trường chung Châu Âu, sự toàn cầu hoá của việc mua bán chứng khoán và sự gia tăng về quy mô của thị trường chứng khoán trên toàn thế giới. Sự ra đời của Uỷ ban CMKT quốc tế (IASC) là một minh chứng cho sự hoà hợp của hai quan điểm nói trên.