Tổng quan nghiên cứu

Thảm thực vật rừng giữ vai trò sống còn trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu và duy trì cân bằng sinh thái toàn cầu, đặc biệt tại các vùng núi cao nhiệt đới gió mùa của Việt Nam. Xã Minh Sơn thuộc huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang là địa bàn vùng cao có tổng diện tích tự nhiên 14.711,56 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 12.659,90 ha (tương đương trên 86,05% tổng diện tích đất toàn xã). Địa hình nơi đây vô cùng phức tạp với hơn 90% diện tích là đồi núi chia cắt hiểm trở, độ dốc lớn, tiềm ẩn nguy cơ cao về lũ quét, sạt lở đất trong mùa mưa bão. Toàn xã gồm 17 thôn bản với đa số đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống dựa vào canh tác nông nghiệp tự cung tự cấp.

Áp lực từ nhu cầu củi đun, gỗ dựng nhà, khai thác lâm sản ngoài gỗ và tập quán phát rừng làm nương rẫy đã tác động tiêu cực sâu sắc đến cấu trúc và tính đa dạng của quần xã thực vật bản địa. Nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn tài nguyên và sinh kế của cộng đồng địa phương, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu đánh giá toàn diện hiện trạng thảm thực vật có mạch, phân tích thực trạng các tác động nhân sinh hai chiều và đề xuất hệ thống giải pháp bảo vệ, phát triển rừng bền vững.

Phạm vi điều tra thực địa được triển khai qua 2 đợt tập trung vào tháng 9 năm 2015 và tháng 12 năm 2015, hoàn thiện xử lý dữ liệu vào tháng 01 năm 2016 trên toàn bộ 17 thôn bản của xã Minh Sơn. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác để quản lý bền vững 12.659,90 ha đất rừng, hướng tới mục tiêu giảm thiểu từ 30% đến 50% nguy cơ xâm hại tài nguyên rừng phòng hộ đầu nguồn lưu vực sông Gâm, bảo vệ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng đồng bộ hai khung lý thuyết nền tảng trong sinh thái học thực vật kinh điển:

Thứ nhất là lý thuyết phân loại dạng sống của Raunkiaer (1934), dựa trên vị trí của chồi qua đông so với mặt đất để phản ánh khả năng thích nghi của thực vật với điều kiện môi trường bất lợi. Hệ thống này chia thành 5 nhóm dạng sống chính: cây có chồi trên mặt đất (Phanerophytes - Ph), cây có chồi sát mặt đất (Chamaephytes - Ch), cây có chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes - He), cây có chồi ẩn (Cryptophytes - Cr), và cây một năm (Therophytes - Th) với phổ sinh học chuẩn SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th.

Thứ hai là khung phân loại thảm thực vật theo UNESCO (1973) kết hợp các hiệu chỉnh của Phan Kế Lộc (1985) và Thái Văn Trừng (1978) về thảm thực vật rừng nhiệt đới gió mùa Việt Nam, tiếp cận theo cấu trúc hình thái, sinh thái học và nguồn gốc sinh thái của các trạng thái thực vật nguyên sinh và thứ sinh.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Thảm thực vật (toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng lãnh thổ xác định theo định nghĩa của Trần Đình Lý năm 1998), Thực vật có mạch (nhóm thực vật bậc cao có hệ mạch dẫn gồm Khuyết thực vật, Hạt trần và Hạt kín), Đa dạng sinh học và Tác động nhân sinh (tập hợp các hoạt động khai thác, tác động tích cực hoặc tiêu cực của con người làm biến đổi cấu trúc quần xã).

Phương pháp nghiên cứu

Để thu thập dữ liệu sơ cấp chuẩn xác trên địa hình phức tạp, tác giả áp dụng phương pháp tuyến điều tra (TĐT) kết hợp ô tiêu chuẩn (OTC) theo tiêu chuẩn của Hoàng Chung (2008).

Về cỡ mẫu thực địa sinh thái, các tuyến điều tra được bố trí vuông góc với đường đồng mức chính, chiều rộng quan sát 2m mỗi bên đối với thảm rừng và cây bụi, 1m đối với trảng cỏ. Trên các tuyến, hệ sinh thái được chia thành các ô tiêu chuẩn: diện tích 400 m2 (20m x 20m) đối với thảm rừng thân gỗ, 16 m2 (4m x 4m) đối với trảng cây bụi, và 1 m2 (1m x 1m) đối với trảng cỏ. Trong mỗi ô tiêu chuẩn, bố trí các ô dạng bản (ODB) ở 4 góc và dọc đường chéo sao cho tổng diện tích ô dạng bản đạt ít nhất 33,3% diện tích ô tiêu chuẩn.

Về phương pháp xã hội học nông thôn, nghiên cứu tiến hành khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên tại 8 trên tổng số 17 thôn bản, mỗi thôn điều tra 30 hộ gia đình (tổng dung lượng mẫu 240 hộ), kết hợp phỏng vấn sâu đại diện chính quyền xã Minh Sơn, cán bộ Hạt Kiểm lâm Bắc Mê, Ban Quản lý Rừng đặc dụng Du Già và học sinh trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS Minh Sơn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm định lượng hóa tương quan giữa điều kiện tự nhiên (địa hình karst chiếm 39,6% diện tích, núi trung bình chiếm 45,9%) với động thái biến đổi tài nguyên, đồng thời đo lường trực tiếp khối lượng gỗ củi và lâm sản ngoài gỗ tiêu thụ qua phương pháp cân đo sinh khối thực tế trong 2 đợt khảo sát kéo dài từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 01 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thực vật có mạch tại xã Minh Sơn ghi nhận mức độ phong phú cao về thành phần loài, phân bố trải rộng trên 4 kiểu thảm thực vật chính: rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ thứ sinh. Trong đó, hệ thống ghi nhận sự xuất hiện của nhiều loài thực vật quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP như Nghiến, Trai lý, Đinh, Dẻ, các loài Phong lan và cây thuốc đặc hữu.

Thứ hai, áp lực khai thác sinh khối gỗ củi cho sinh hoạt gia đình đạt mức báo động. Kết quả điều tra chi tiết tại các hộ dân cho thấy 100% số hộ tại các thôn bản phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn củi đốt từ rừng tự nhiên. Lượng củi tiêu thụ trung bình dao động từ 15 đến 25 kg/hộ/ngày (tương đương 5,5 đến 9,1 tấn/hộ/năm) cho các mục đích nấu ăn, sưởi ấm, đun nước và nấu rượu. Nhu cầu gỗ xẻ làm nhà sàn truyền thống ước tính khoảng 15 đến 30 m3 gỗ tròn cho mỗi căn nhà.

Thứ ba, sự thu hẹp diện tích đất sản xuất dẫn đến xu hướng phá rừng làm nương rẫy gia tăng. Giai đoạn 1990 - 2015, sự gia tăng dân số cơ học và tự nhiên khiến diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm mạnh từ trên 0,5 ha/người xuống dưới 0,18 ha/người. Hơn 70% diện tích đất nương rẫy trồng ngô hiện nay có nguồn gốc từ việc phát trắng và đốt các dải rừng tái sinh hoặc rừng nghèo kiệt trên sườn dốc.

Thứ tư, công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng bước đầu ghi nhận chuyển biến tích cực. Tại các khu vực được chi trả tiền bảo vệ rừng, mật độ cây tái sinh mục đích đạt từ 1.200 đến 1.800 cây/ha, giúp tỷ lệ che phủ thảm thực vật phục hồi khoảng 12% đến 15% so với các ô nương rẫy bỏ hoang không được quản lý.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thoái thảm thực vật bắt nguồn từ điều kiện địa hình karst chiếm 39,6% diện tích tự nhiên, đất đai bị xói mòn mạnh thuộc nhóm đất xám (chiếm 72,7% diện tích) nghèo dinh dưỡng, kết hợp với tỷ lệ đói nghèo cao. Việc 3 trên tổng số 17 thôn bản (Khuổi Lòa, Phia Đeng, Suối Thầu) chưa có điện lưới quốc gia và hệ thống giao thông cách trở (cách trung tâm huyện trên 30 km) khiến người dân buộc phải khai thác cạn kiệt tài nguyên rừng tại chỗ.

Khi so sánh với các nghiên cứu của Đỗ Anh Tuấn (2001) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (thu nhập từ rừng chiếm 62% tổng thu nhập hộ gia đình) và Đỗ Thu Hướng (2003) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, kết quả tại Minh Sơn cho thấy mức độ phụ thuộc sinh kế vào rừng của đồng bào vùng sâu vùng xa có tính quy luật tương đồng sâu sắc.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cấu trúc ngành thực vật (ngành Mộc lan chiếm ưu thế tuyệt đối trên 85% tổng số loài), biểu đồ cột so sánh tương quan giữa 12.659,90 ha đất lâm nghiệp với 1.002,14 ha đất sản xuất nông nghiệp, cùng bảng ma trận thống kê phân loại 6 nhóm đất chính của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp. Các bằng chứng này khẳng định thảm thực vật Minh Sơn đóng vai trò hạt nhân trong việc bảo vệ hồ thủy điện Tuyên Quang và các công trình thủy điện trên sông Gâm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, phân định ranh giới và bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. Tiến hành cắm mốc ranh giới rõ ràng cho 12.659,90 ha đất lâm nghiệp, trong đó ưu tiên bảo vệ tuyệt đối các quần xã rừng trên núi đá vôi (chiếm 39,6% diện tích tự nhiên). Cơ quan thực hiện: Ban Quản lý Rừng đặc dụng Du Già phối hợp với Hạt Kiểm lâm Bắc Mê và UBND xã Minh Sơn. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2016 - 2018. Chỉ tiêu mục tiêu: Giảm thiểu 85% các vụ vi phạm chặt phá gỗ quý và săn bắt động vật hoang dã.

Thứ hai, chuyển đổi sinh kế bền vững thông qua mô hình nông lâm kết hợp. Đẩy mạnh khai thác hiệu quả 1.002,14 ha đất sản xuất nông nghiệp thông qua việc đưa các giống ngô lai, lúa nước thâm canh năng suất cao trên 45 tạ/ha vào gieo trồng, kết hợp phát triển mô hình trồng thảo quả, hà thủ ô dưới tán rừng. Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bắc Mê phối hợp với Trạm Khuyến nông. Thời gian triển khai: 2016 - 2020. Mục tiêu: Nâng cao giá trị thu nhập bình quân đầu người từ sản xuất nông lâm nghiệp lên 1,5 lần.

Thứ ba, triển khai các giải pháp công nghệ năng lượng sinh khối thay thế củi đun. Hỗ trợ lắp đặt 150 hầm khí sinh học biogas tận dụng chất thải chăn nuôi và cung cấp 500 bếp đun cải tiến tiết kiệm nhiên liệu cho các hộ gia đình thuộc 17 thôn bản. Chủ thể thực hiện: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bắc Mê phối hợp với Hội Nông dân xã Minh Sơn. Thời gian: 2017 - 2019. Mục tiêu: Giảm từ 40% đến 50% tổng khối lượng gỗ củi khai thác từ rừng tự nhiên mỗi năm.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách giao đất giao rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đảm bảo 100% diện tích rừng giao khoán cho các cộng đồng thôn bản nhận đủ tiền dịch vụ môi trường rừng với đơn giá tối thiểu 400.000 đồng/ha/năm, đồng thời lồng ghép chương trình giáo dục môi trường vào giảng dạy tại trường PTDTBT THCS Minh Sơn. Thời gian thực hiện: Thường niên từ 2016 đến 2025. Cơ quan chịu trách nhiệm: UBND huyện Bắc Mê và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Hà Giang.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương, bao gồm UBND huyện Bắc Mê, UBND xã Minh Sơn và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang. Luận văn cung cấp luận cứ thực chứng về hiện trạng 14.711,56 ha đất tự nhiên để xây dựng quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, xây dựng phương án phòng chống thiên tai lũ quét, sạt lở đất và triển khai hiệu quả Nghị định 32/2006/NĐ-CP trên địa bàn.

Nhóm 2: Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia, trọng tâm là Ban Quản lý Rừng đặc dụng Du Già và các khu vực lân cận. Tài liệu là tài liệu hướng dẫn chuyên sâu về phương pháp thiết lập tuyến điều tra và hệ thống ô tiêu chuẩn để theo dõi diễn thế phục hồi thảm thực vật sau nương rẫy, thiết lập cơ chế đồng quản lý rừng với người dân bản địa.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Sinh thái học, Thực vật học, Lâm học và Quản lý tài nguyên rừng. Công trình cung cấp bộ dữ liệu dã ngoại chuẩn mực về ứng dụng phổ dạng sống Raunkiaer và phân loại thảm thực vật UNESCO trong điều kiện sinh thái núi đá karst nhiệt đới gió mùa miền Bắc Việt Nam.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức phát triển quốc tế hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo. Bộ số liệu khảo sát định lượng tại 240 hộ gia đình thuộc 8 thôn bản là nguồn dữ liệu chuẩn xác để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế nông lâm kết hợp và hỗ trợ năng lượng sạch.

Câu hỏi thường gặp

Thảm thực vật tại xã Minh Sơn có vai trò như thế nào đối với an ninh môi trường lưu vực sông Gâm? Thảm thực vật trên 12.659,90 ha đất lâm nghiệp tại Minh Sơn đóng vai trò là lá chắn sinh thái đầu nguồn, giúp điều tiết nguồn nước cho các nhánh suối Lũng Vầu, Suối Thầu trước khi đổ ra sông Mã và sông Gâm. Hệ thống thảm phủ này giúp ngăn ngừa xói mòn đất xám (chiếm 72,7% diện tích), hạn chế bồi lắng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang và giảm thiểu nguy cơ lũ ống, lũ quét cho các khu dân cư phía hạ lưu.

Địa hình karst ảnh hưởng như thế nào đến khả năng phục hồi của thảm thực vật địa phương? Kiểu địa hình karst chiếm tới 39,6% diện tích tự nhiên của xã với các khối núi đá vôi tai mèo lởm chởm, độ dốc lớn trên 35 độ và khả năng giữ nước mặt rất kém do hệ thống hang động ngầm. Khi rừng bị phát quang làm rẫy, lớp đất mỏng bị rửa trôi trơ sỏi đá, khiến quá trình tái sinh tự nhiên của các loài cây gỗ quý bị gián đoạn, thời gian phục hồi kéo dài gấp 3 đến 4 lần so với đất đồi feralit thông thường.

Tại sao nhu cầu củi đun lại là áp lực suy thoái lớn nhất đối với quần xã thực vật? Toàn bộ 17 thôn bản của xã đều đun nấu hoàn toàn bằng củi lấy từ rừng với mức tiêu thụ từ 5,5 đến 9,1 tấn củi/hộ/năm. Trong điều kiện 3 thôn bản chưa có điện lưới và giao thông trắc trở, việc thu gom gỗ củi liên tục quanh năm đã làm suy kiệt tầng cây bụi, cây tái sinh và phá vỡ cấu trúc đa tầng tán nguyên thủy của rừng tự nhiên.

Phương pháp nghiên cứu nào được tác giả sử dụng để định lượng cấu trúc thảm thực vật? Tác giả đã kết hợp hài hòa phương pháp tuyến điều tra vuông góc đường đồng mức và hệ thống ô tiêu chuẩn 400 m2 cho cây gỗ, 16 m2 cho cây bụi và 1 m2 cho thảm cỏ theo quy chuẩn UNESCO. Điểm nổi bật là việc bố trí các ô dạng bản chiếm tối thiểu 33,3% diện tích ô tiêu chuẩn để đếm số lượng cá thể, xác định tên khoa học và lập phổ sinh học Raunkiaer chính xác.

Giải pháp nào được xem là đột phá để dung hòa giữa bảo tồn rừng và phát triển kinh tế tại Minh Sơn? Giải pháp đột phá là lồng ghép chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với hỗ trợ 150 hầm biogas và 500 bếp đun tiết kiệm củi, đồng thời thâm canh lúa nước và ngô lai trên 1.002,14 ha đất nông nghiệp hiện có. Cách tiếp cận này giải quyết trực tiếp nguồn nhiệt năng sinh hoạt và an ninh lương thực, giúp người dân chấm dứt nạn phá rừng làm nương rẫy.

Kết luận

  1. Nghiên cứu đã hoàn thành việc đánh giá toàn diện hiện trạng thảm thực vật có mạch trên tổng diện tích 14.711,56 ha của xã Minh Sơn, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
  2. Xác lập cấu trúc hình thái và phổ dạng sống của thảm thực vật thích nghi trên nền địa hình núi karst (39,6%) và núi trung bình (45,9%) theo khung chuẩn Raunkiaer và UNESCO.
  3. Định lượng hóa các áp lực nhân sinh tiêu cực, đặc biệt là lượng tiêu thụ củi đốt từ 5,5 đến 9,1 tấn/hộ/năm và sự thu hẹp đất nông nghiệp bình quân đầu người xuống dưới 0,18 ha/người.
  4. Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm bảo vệ nghiêm ngặt rừng tự nhiên, chuyển đổi sinh kế nông lâm kết hợp, ứng dụng năng lượng sạch và hoàn thiện chi trả dịch vụ môi trường rừng.
  5. Luận văn đóng góp nguồn dữ liệu thực địa tin cậy cho công tác quy hoạch bảo tồn hệ sinh thái rừng đặc dụng Du Già và lưu vực sông Gâm trong giai đoạn phát triển mới.

Trong giai đoạn 2016 - 2020, địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất vào kế hoạch hành động phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của huyện Bắc Mê, ưu tiên hoàn thành việc cắm mốc ranh giới rừng và hỗ trợ bếp cải tiến cho 100% hộ đồng bào dân tộc nghèo.

Hãy cùng chung tay bảo vệ màu xanh của cánh rừng nguyên sinh Minh Sơn – lá phổi xanh đầu nguồn biên cương, vì sự phát triển bền vững của cộng đồng hôm nay và các thế hệ mai sau!