CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới [3, 5] Tôm sú (Penaeus monodon) là đối tượng thủy sản có giá trị thương phẩm cao và cũng là đối tượng nuôi quan trọng của một số nước đang phát triển ở Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines, Việt Nam và Ecuador (Nam Mỹ).
Nghề nuôi tôm không chỉ góp phần lớn làm tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cho các nước nêu trên mà còn có tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống cho người nuôi thủy sản [5]. Hiện nay, nghề nuôi tôm nước lợ ở nhiều nước trên thế giới đã và đang chịu ảnh hưởng nghiêm trọng do môi trường nuôi ô nhiễm và dịch bệnh phát sinh, đặc biệt là mô hình nuôi tôm sú thâm canh. Hậu quả là có nhiều vùng nuôi tôm bị thất bại liên tục đã bị bỏ hoang, gây nên những tác động nghiêm trọng về kinh tế xã hội. Các số liệu thống kê cho thấy sản lượng tôm nuôi trên thế giới giảm dần từ 733.000 tấn năm 1996 và đến năm 1997 chỉ còn 660.
Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam [3, 4, 29] Trong khoảng 10 năm gần đây, ngành thủy sản nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng của nước ta đã và đang phát triển mạnh mẽ. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT), đến năm 2008, diện tích nuôi trồng thủy sản đã được mở rộng lên trên 1 triệu ha và sản lượng đạt gần 2,45 triệu tấn, tăng gấp 12 lần so với năm 1980. Bên cạnh đó, giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ngày càng tăng mạnh, năm 2008 đạt trên 4,5 tỷ USD, đứng thứ tư trong những ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của cả nước [4]. Tuy nhiên, thực tế cho thấy giá cả hấp dẫn và ổn định của con tôm trên thị trường thế giới cùng với giá đất tương đối thấp của vùng Duyên Hải đã đưa đến sự bùng nổ việc phát triển nghề nuôi tôm.
Điều đáng lưu ý là kỹ thuật nuôi tôm tuy không quá phức tạp, nhưng bản thân hệ sinh thái này khá biến động đối với việc nuôi thâm canh, hệ thống sản xuất thiếu tính bền vững đã dẫn đến nhiều thiệt hại cho nghề nuôi tôm trên thế giới. Tại Việt Nam trong hai năm 1994 - 1995 hiện 10 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TỔNG QUAN TÀI LIỆU tượng tôm nuôi chết hàng loạt và lan rộng trên hầu hết các tỉnh ven biển phía Nam đã gây thiệt hại trên dưới 250 tỉ đồng. Theo sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu năm 2008 - 2009, nhiều hộ dân tại 3 đơn vị của tỉnh đã chuyển gần 1.000 ha đất nuôi tôm công nghiệp kém hiệu quả sang làm muối. Trước tình hình trên, nhiều chương trình nghiên cứu liên quan đến việc xác định các tác nhân gây bệnh chính trên tôm nuôi, cụ thể ở Đồng bằng Sông Cửu Long cho thấy ngoài tác nhân gây bệnh thuộc nhóm Vibrio còn ghi nhận sự xuất hiện của hai tác nhân gây bệnh virus quan trọng là MBV (Monodon Baculovirus) và WSSV (White Spot Syndrom Virus) [3, 29].
CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN TÔM VÀ PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ Có rất nhiều vi sinh vật gây dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản như vi khuẩn, virus, tảo, nấm, ký sinh trùn đơn bào…. Bệnh thường gặp ở tôm [3] Hiện nay bệnh truyền nhiễm do nhóm vi khuẩn phát sáng và nhóm virus MBV (Monodon Baculovirus), YHV (Yellow Head Virus), WSSV (White Spot Syndrom Virus) được xem là tác nhân gây bệnh đáng được quan tâm nhất đã làm ảnh hưởng đến sản lượng tôm nuôi hàng năm. Bệnh đốm trắng trên tôm Bệnh đóng rong trên tôm phần lớn do một số vi khuẩn gây ra như: Vibrio sp. Do một số tảo lam: Spirulina subsalsa, Schizthrix calcicola; Tảo lục: Enteromorpha sp.; Tảo khuê: Amphora sp., loài nấm và nguyên sinh động vật.
11 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TỔNG QUAN TÀI LIỆU Tôm bị rụng râu, phồng đuôi, đốm đen, đốm nâu. là do các vi khuẩn Vibrio, Aeromonas, Pseudomonas.gây bệnh có trong hồ nuôi tôm [3]. Vi khuẩn Vibrio – tác nhân thường gây bệnh trên tôm [2, 4, 13] Theo khóa phân loại Bergey, Vibrio được phân loại như sau: Giới (Kingdom): Bacteria Ngành (Phylum): Proteobacteria Lớp (Class): Gamma Proteobacteria Bộ (Order): Vibrionales Họ (Family): Vibrionaceae Chi (Genus): Vibrio (Pacini 1854) Hình 1. Vi khuẩn Vibrio Vibrio là một chi của vi khuẩn Gram âm, có hình que hai đầu không đều tạo hình dấu phẩy, di động,một số loài có thể gây nhiễm khuẩn thực phẩm, thường đối với ăn hải sản nấu chưa chín.
Vibrio là vi khuẩn kị khí tùy nghi,phản ứng catalase và oxidase dương tính và không hình thành bào tử. Tên Vibrio xuất phát từ Filippo Pacini - người đã phân lập được vi sinh vật mà ông gọi là "vibrions" từ bệnh nhân bệnh tả vào năm 1854 [2]. cholera hiện diện ở vùng nước ngọt, hầu hết các loài Vibrio khác đều cần có muối để phát triển. Na+ kích thích cho sự phát triển của các loài Vibrio, chúng không phát triển trong môi trường không muối nên Vibrio sp thường được tìm thấy phổ biến ở trong nước biển và ven bờ, trong nước bể ương tảo, bể ương Artemia, trong bể ương ấu trùng [4, 13].
Bệnh do vi khuẩn Vibrio ở động vật thuỷ sản [3, 4, 13, 28] Trước đây, nhóm Vibrio được xem là nhóm vi khuẩn cơ hội. Tuy nhiên qua điều tra tại nhiều ổ dịch xảy ra trên tôm sú nuôi do vi khuẩn Vibrio gây ra cho thấy loài này dường như được xem là vi khuẩn gây bệnh tiên phát thật sự chứ không phải là vi khuẩn cơ hội [3]. Vibrio gây chết ấu trùng tôm, tôm giống, tôm thương phẩ m và kể cả tôm trưởng thành. Dịch bệnh có thể gây chết 100% [4].
12 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TỔNG QUAN TÀI LIỆU Hình 1. Tôm bệnh phát sáng do V. harveyi Do đặc điểm của Vibrio sp là ưa muối, ưa kiềm nên bệnh tôm phát sáng do Vibrio harveyi, Vibrio parahaemolyticus thường thấy trong những ao có hàm lượng chất hữu cơ cao, chất thải đáy ao tích tụ nhiều, những vùng nước có độ mặn cao, phát triển mạnh nhất ở độ mặn 30-35 ppt, có thể xuất hiện ở pH từ 7,5 - 9,0. Ở dưới 5 ppt hầu như không thấy bệnh này xuất hiện [13, 28].
Phương án xử lý bệnh và những tác động tiêu cực của việc dùng thuốc trong nuôi trồng thủy sản [4, 27, 31]. Trong nuôi trồng thủy sản với quy mô công nghiệp, để tiêu diệt tác nhân gây bệnh, nâng cao sức khỏe vật nuôi và quản lý điều kiện môi trường thì không thể tránh khỏi việc dùng thuốc. Để xử lý các bệnh ở tôm, có thể dùng các loại thuốc kháng sinh, chất sát khuẩn phổ biến như: bioxide, oxolinic, povidine, aquaclean,… Dùng formalan diệt zoothamnium vào ban đêm trong trường hợp bệnh đóng rong ở tôm. Tuy nhiên, ngoài những tác dụng chính của thuốc còn có các tác dụng phụ như ảnh hưởng tới sức khỏe vật nuôi, sinh thái môi trường, chất lượng sản phẩm và sức khỏe con người.
Trong số các loại thuốc đã và được sử dụng phổ biến, thuốc sát trùng, thuốc diệt địch hại và thuốc kháng sinh thường có tác dụng tiêu cực rõ rệt hơn các chủng loại khác [27, 31]. Theo tác giả Nguyễn Thị Hải Yến (2001) cho biết, khi điều tra 55 trại sản xuất giống tại Khánh Hòa, đã có 134 loại hóa chất, kháng sinh được sử dụng và khi điều tra trên gần 5000 ha nuôi tôm thương phẩm, trong một vụ nuôi khoảng 4 - 5 tháng, người ta đã sử dụng 426 tấn Chlorine, 345,892 lít Formol, 86 tấn thuốc tím, 13 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TỔNG QUAN TÀI LIỆU 46,7 tấn Iodine và 6,8 tấn malachite. Theo Tạ Khắc Thường (2001), điều tra trên diện tích 668,5 ha nuôi tôm xung quanh đầm Phả Lại ở tỉnh Ninh Thuận cho biết, mỗi năm, người dân ở đây đã sử dụng 795 tấn vôi các loại, 15 000 lít Formol, 86 tấn thuốc tím, và 100 tấn thuốc diệt cá [4]. Ngoài sử dụng các loại thuốc hóa học, việc sử dụng các vi sinh vật có lợi để phân hủy các chất hữu cơ dư thừa (Bacillus subtilis1070 hoặc BS-I) cũng được xem là một trong những biện pháp hiệu quả trong việc phòng và điều trị bệnh cho tôm nhưng chưa được người dân sử dụng rộng rãi do hiểu biết hạn chế về cơ chế tác động và hiệu quả của các chế phẩm sinh học [27, 31].
Những tác động tiêu cực đáng lưu ý do việc sử dụng thuốc trong nuôi trồng thủy sản gây ra: 1. Tác động đến môi trường sinh thái Khi dùng một số hóa chất có khả năng diệt trùng cao, phổ diệt trùng rộng như: nuvan, aquaguar, formol, sulphate đồng, iodine. diệt ký sinh trùng trong các ao nuôi cá, tôm, có thể tiêu diệt luôn cả những động vật, thực vật có lợi trong ao nuôi: có thể gây tảo tàn, gây nghèo sinh vật phù du và sinh vật đáy. Khi dùng các loại kháng sinh để phòng và trị bệnh nhiễm khuẩn trong nuôi trồng thuỷ sản bằng các phương pháp cho ăn (nuôi thương phẩm) và cho vào môi trường (với sản xuất ấu trùng), một phần kháng sinh không được vật nuôi hấp thụ, tồn đọng môi trường nuôi, rồi theo nguồn nước thải ra môi trường xung quanh, gây tác động đáng kể đến môi trường quanh khu vực nuôi.
Ảnh hưởng tới vật nuôi thủy sản Ngoài những tác động xấu đến môi trường, những loại thuốc dùng trong nuôi trồng thủy sản để tiêu diệt tác nhân gây bệnh hoặc địch hại, còn có những tác động tiêu cực đến sức khỏe vật nuôi, kháng sinh só thể gây độc cho gan, thận, và tiêu diệt những vi khuẩn có lợi trong đường ruột, làm giảm đi khả năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn của vật nuôi, gây hiện tượng chậm lớn, còi cọc. 14 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TỔNG QUAN TÀI LIỆU Tại việt Nam, để phòng bệnh nhiễm khuẩn trong quá trình sản xuất, người ta thường dùng nhiều loại kháng sinh liên tục trong suốt quá trình ương ấp mặc dù vẫn xảy ra tình trạng dịch bệnh trong tại giống, mặt khác, việc sử dụng nhiều loại kháng sinh liên tục còn làm giảm sức khỏe của đàn giống, khi thả chúng ra ao nuôi thương phẩm, những con giống này sẽ mẫn cảm hơn với tác nhân gây bệnh. Gây hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh Hiện tượng kháng thuốc xảy ra khi sử dụng một loại thuốc quá lâu, sử dụng không đúng liều lượng, thời điểm trong quá trình nuôi trồng thủy sản. Kháng kháng sinh là một loại kháng thuốc mà một vi sinh vật có thể tồn tại khi tiếp xúc với một kháng sinh.