phần mở đầu và phần kết luận kiến nghị, cấu trúc Luận văn gồm 3 chƣơng: (LUAN.hau 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu; Chƣơng 2: Cơ sở phƣơng pháp luận; Chƣơng 3: Đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng và rủi ro do lũ lụt ở lƣu vực hạ lƣu sông Cả.hau 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu tính dễ bị tồn thƣơng do lũ lụt: Khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng: Phát triển theo quan điểm của IPCC về tổn thƣơng biến đổi khí hậu, định nghĩa về tính dễ bị tổn thương do lũ lụt có thể được phát biểu: "Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể chống chịu với các tác động tiêu cực của lũ lụt, được xác định thông qua các tiêu chí nguy cơ, độ phơi bày, tính nhạy và khả năng chống chịu" [23], [24], [25]. Do đó tính dễ bị tổn thƣơng do lũ lụt có thể đƣợc biểu thị là hàm của mức độ phơi bày trƣớc hiểm họa (Exposure), độ nhạy (Sensitivity) và khả năng thích ứng (Adaptation Capacity).1) trong đó: + Mức độ phơi bày (Exposure) là khuynh hƣớng của một hệ thống bị phá vỡ bởi tai biến lũ lụt do vị trí của nó trong cùng một khu vực ảnh hƣởng; hay đƣợc hiểu là các giá trị có mặt tại địa điểm nơi mà lũ lụt có thể xảy ra. + Độ nhạy (Sensitivity) là mức độ của một hệ thống chịu tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp) có lợi cũng nhƣ bất lợi bởi các tác nhân kích thích liên quan đến lũ lụt; + Khả năng thích ứng (Adaptive Capacity) là khả năng của một hệ thống nhằm thích nghi với lũ lụt.
Theo Viện Giảm thiểu Thiên Tai (Disaster Reduction Institute – DRI) thì tính dễ bị tổn thƣơng (TDBTT) là sự kết hợp của các yếu tố về mức độ phơi bày (Exposure), độ nhạy (Suscepbility) và khả năng thích ứng (Adaptation Capacity) TDBTT = Mức độ phơi bày (Exposure) x Mức độ nhạy(Suscepbility)/Khả năng thích ứng (Adaptation Capacity) Turner (Chủ tịch Ủy ban Biến đổi khí hậu Anh) và các tác giả khác (2003) miêu tả tính dễ bị tổn thƣơng là hàm số có 3 đặc điểm: độ phơi bày (Exposure), độ nhạy (Sensitivity) và khả năng thích ứng (Adaptation Capacity). Metzger và các tác giả khác (2006) đã lý thuyết hóa khái niệm này và biểu diễn bằng toán học tính dễ bị tổn thƣơng (V) là hàm gồm độ phơi bày (E), độ nhạy (S) và khả năng ứng phó (AC).hau 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau Cũng theo Turner thì TDBTT có thể đƣợc biểu thị là hàm của các tác động tiềm tàng (Potential Impacts – PI) và khả năng thích ứng (Adaptation Capacity): V = f(PI, AC) Nhƣ vậy, có thể nhìn nhận rằng cả định nghĩa của IPCC, khái niệm của DRI và khái niệm của Turner và Metzger đều có chung các tác động tiềm tàng (hay nguy cơ) trong đó chúng là hàm gồm độ tiếp xúc, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng. Từ khái niệm dễ bị tổn thƣơng trên thì nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu để đánh giá mức độ tổn thƣơng đến các hƣớng nhƣ: khoa học tự nhiên; khoa học xã hội. Các nhà nghiên cứu theo hƣớng khoa học tự nhiên nhƣ: Kron, D.Fteke[21] và Catherine J.
L[17] quan niệm rằng tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc xác định nhƣ là mức độ tổn thất khả năng trong các thành phần rủi ro, là hậu quả tất yếu của hiện tƣợng thiên tai xảy ra theo không gian và thời gian. Hƣớng nghiên cứu thƣờng chú trọng đến sự tiếp xúc với tai biến, điều kiện phân bố tai biến, tính khu vực tai biến, mức độ thiệt hại và từ đó phân tích các đặc trƣng tác động của hiện tƣợng. Theo hƣớng khoa học xã hội, Cutter [19] đã cho rằng không có định nghĩa duy nhất của tính dễ bị tổn thƣơng. Hƣớng tiếp cận khoa học xã hội không chỉ xem xét khả năng đối phó với tai biến thiên nhiên mà còn xem xét các cá thể bị tác động trong điều kiện xã hội nhất định.
Những nghiên cứu này thƣờng chú trọng đến các tổn thƣơng xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân cƣ bao gồm cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi tai biến. Ngoài ra, IPCC-CZMS[25], đã nghiên cứu, đề xuất phƣơng pháp đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng đơn giản nhằm xác định và đánh giá các tác động của mực nƣớc biển dâng đến đời sống ngƣời dân trên bề mặt hành tinh và đƣợc ứng dụng tại nhiều nơi. Phƣơng pháp này kết hợp các nhận định của chuyên gia với dữ liệu về các đặc tính vật lý và kinh tế - xã hội, từ đó phân tích, ƣớc tính các tác động của mực nƣớc biển dâng bao gồm cả giá trị mất đi của các vùng đất và đất ngập nƣớc. Tập trung nghiên cứu và hƣớng đến cộng đồng nhiều hơn, năm 2001 Nakamura và cộng sự đã tiếp cận theo hƣớng của Penning - Rowsell về tính dễ bị tổn thƣơng hộ gia đình, dựa vào số thành phần nhƣ: kinh tế xã hội thay đổi theo tuổi tình trạng y tế, sự cứu trợ, thu nhập, sự liên kết của cộng đồng, sự hiểu biết về lũ lụt.hau 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau Green[22] đã tập trung phân tích tính dễ bị tổn thƣơng về hộ gia đình và biểu thị tính dễ bị tổn thƣơng cộng đồng địa phƣơng nhƣ là nhân tố có liên quan, dựa vào nhân tố nhƣ: Thu thập, sự cứu trợ, dịch vụ cộng đồng năng lƣợng, giáo dục.
để xét tới sự tổn thƣơng của cộng đồng địa phƣơng. Năm 2006, Villagra’n de Leo’n JC [16] đã đƣa ra mối quan hệ giữa tính dễ bị tổn thƣơng, sự lộ diện, tính nhạy và khả năng chống chịu qua công thức: Tổn thƣơng= (Sự lộ diện x Tính nhạy)/(Khả năng chống chịu) Trong khi đó UNESCO –ihe lại đƣa ra một công thức tính khác: Tổn thƣơng lũ = Sự lộ diện + Tính nhạy – Khả năng phục hồi. Một hƣớng nghiên cứu khác đánh giá tổn thƣơng lũ dựa vào bản thân cộng đồng dân cƣ mà không xét đến sự lộ diện của cộng đồng đó trƣớc nguy cơ lũ. Nghiên cứu của Conner (2007) [18] đã đƣa ra các biện pháp công trình và phi công trình vào tính toán chỉ số tổn thƣơng do lũ, thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng dân cƣ.
Sebastian (2010) [27] đã xác định tính tổn thƣơng lũ là sự kết hợp giữa xác suất tác động (thiệt hại) và khả năng chống chịu. Theo cách tiếp cận này thì tính tổn thƣơng lũ của các cộng đồng sống ven sông ngang bằng với những cộng đồng sống ở vùng cao. Các cách tiếp cận đánh giá tổn thƣơng lũ đó chỉ xem tính tổn thƣơng lũ là một yếu tố trong việc xác định rủi ro lũ và chỉ tập trung vào một mặt nhất định nhƣ kinh tế hay khả năng chống chịu của cộng đồng. Feteke [21] coi tính dễ bị tổn thƣơng xuất phát từ một biểu hiện cực đoan, có xu hƣớng với biểu hiện tích cực.
Đánh giá đƣợc tính dễ bị tổn thƣơng là nắm bắt đƣợc những điều kiện của hệ thống xã hội, các đặc điểm của nó khi đối mặt với thiên tai lũ lụt. Các thành phần tạo nên tính dễ bị tổn thƣơng bao gồm: độ phơi bày, tính nhạy và khả năng chống chịu dƣới tác động của hiện tƣợng cực đoan trong bối cảnh cụ thể[10]. Ở đây, coi tính dễ bị tổn thƣơng là một thành phần của rủi ro thay đổi theo không gian, thời gian nhằm mục đích giảm thiểu tai biến. Feteke đƣa ra 41 biến số phụ thuộc 3 thành phần (kinh tế, xã hội và môi trƣờng) trên cơ sở đáp ứng 3 tiêu chí (độ phơi bày, tính nhạy và khả năng chống chịu), đƣợc thể hiện qua 8 yếu tố (độ tuổi, sự phụ thuộc, trình độ, nguồn thu nhập, y tế, thể chế, loại hình nhà cửa, tiềm năng kinh tế khu vực).
Các biến này đƣợc đánh giá theo 4 tiêu chuẩn ngƣời có sức khỏe yếu dẫn đến tử vong, ngƣời phụ thuộc hoàn toàn vào y tế, trình độ con ngƣời và nguồn lực tài chính của con (LUAN.hau 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau ngƣời. Hạn chế trong nghiên cứu của A. Feteke thể hiện ở chỗ là độ phơi bày đƣợc lấy theo mật độ kết cấu hạ tầng là chƣa phản ánh đầy đủ yếu tố này. Vấn đề đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng ở Việt Nam đã đƣợc các nhà nghiên cứu đề cập đến gần nhƣ đồng hành với các nghiên cứu về biến đổi khí hậu trong các công trình của Mai Trọng Nhuận khi đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng về môi trƣờng [8], về tài nguyên địa chất [9], của các đới ven biển.
Năm 2013, Hoàng Anh Huy [4] đã đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, tai biến và đề xuất định hƣớng thích ứng tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định và vùng lân cận. Đinh Thái Hƣng [5] đã nghiên cứu, xây dựng chỉ số tính dễ bị tổn thƣơng (CVI) cho vùng bờ biển Việt Nam trong các kịch bản nƣớc dâng, theo hai thành phần là tính nhạy cảm và khả năng chống chịu của hệ thống bờ biển (tự nhiên) để thích ứng với những biến đổi của điều kiện môi trƣờng. Các chỉ số này phản ánh mức độ dễ bị tổn thƣơng của khu vực bờ biển để phục vụ công tác quản lý hiệu quả khu vực đới bờ. Trong nhiều nghiên cứu đã khẳng định biến đổi khí hậu làm gia tăng các tính chất cực đoan của tai biến thiên nhiên và ngập lụt không phải là ngoại lệ.
Vì lẽ đó, đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do các tai biến thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu cũng đang đƣợc quan tâm nghiên cứu. Ngô Thị Vân Anh [2] đã đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng trong bối cảnh biến đổi khí hậu của thành phố Cần Thơ, đã xem xét các thành phần là: độ phơi bày, độ nhạy và khả năng chống chịu. Cùng bàn về vấn đề này, Hà Hải Dƣơng [3] sử dụng 3 tiêu chí là độ phơi bày, tính nhạy và khả năng chống chịu khi đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng dó biến đổi khí hậu. Chi tiết hơn, Trần Thục [10] đã xây dựng quy trình đánh giá tình trạng dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp, với các thành phần đƣợc xem xét độ phơi bày, tính nhạy và khả năng thích ứng.
Tuy nhiên mới đây các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thƣơng dó lũ lụt cũng đã đƣợc các nhà khoa học tiếp cận nhƣ: PGS.