ĐẶT VẤN ĐỀ Theo đánh giá “Việt nam là 1 trong 16 nƣớc có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới” nhờ các đặc điểm về mặt địa lý, địa mạo, khí hậu,… của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về các loại sinh thái và sinh vật. Sự phong phú đó đem lại nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, không những cung cấp lâm sản phục vụ nhu cầu cho con ngƣời mà còn phục vụ cho các họat động nghiên cứu khoa học lâm nghiệp. Họ Mộc hƣơng (Aristolochiaceae) tại Việt Nam với chi điển hình Aristolochia, đƣợc biết khoảng 25 loài thuộc 2 phân chi là Aristolochia và Siphisia với những loài có công dụng làm thuốc chữa bệnh đã đƣợc phát hiện ở Ba Vì, Komtum, Cao Bằng, SaPa,… Khu bảo tồn (KBT) loài và sinh cảnh Vƣợn cao vít nằm trên địa bàn 3 xã Ngọc Côn, Ngọc Khê và Phong Nặm của huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng có giá trị đa dạng sinh học cao của Việt Nam với thành phần động, thực vật phong phú và đa dạng, trong đó có 994 loài thực vật với 34 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam. Công tác điều tra thực vật tại KBT mới dừng lại ở bƣớc đầu xác định đƣợc thành phần loài cơ bản của một số nhóm thực vật, vì vậy còn nhiều loài chƣa đƣợc nghiên cứu trong đó có các loài thực vật thuộc họ Mộc hƣơng chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu.
Xuất phát từ thực trạng trên tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài và phân bố họ Mộc hương (Aristolochiaceae) tại khu bảo tồn sinh cảnh và loài Vượn cao vít huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng” nhằm làm rõ hơn một số đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu và đóng góp cơ sở dữ liệu cho KBT, phục vụ công tác bảo tồn và phát triển KBT nói chung và các loài thực vật thuộc họ Mộc hƣơng nói riêng. 1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ HỌ MỘC HƢƠNG (ARISTOLOCHIACEAE) Aristolochiaceae – họ Mộc Hƣơng (nam Mộc hƣơng, Sơn địch, Phòng kỷ) Họ Aristolochiaceae là một nhóm thực vật 2 lá mầm cơ sở (thực vật 2 lá mầm cổ ) nó có quan hệ họ hàng gần với các bộ Magnoliales, Laurales, Canellales và piperales chúng tạo thành một nhánh đơn nghành gọi là phức hợp mộc lan (Magnollids). Là cỏ nhiều năm, cây thảo trên mặt đất hay dây leo ở dƣới tán rừng.
Lá đơn nguyên hình tim, mọc cách không lá kèm. Hoa đơn mọc ở nách lá có mùi thịt thối, bao hoa đơn, phát triển dạng cánh hình ống cong hình chữ U thắt lại thành eo ở giữa, có 3 thuỳ đều hay không đều màu tím hay lục vàng, lƣỡng tính, bầu dƣới, có 6 - 4 ô mang 6 - 4 đầu nhụy. Quả nang có 6 cạnh mở thành 6 múi. Số chi / số loài: 7 / 625 Phân bố: Nhiệt đới hay ôn đới ở châu Á, Phi Âu, Mỹ Phân loại: Thƣờng là dây leo trong rừng, có 3 tông: Sarameae cây thảo, hoa đều đơn độc, Bragantieae cây bụi, hoa đều, chùm hay xim, không tràng, bầu dƣới, Aristolochieae dây leo, hoa không đều, không tràng, nhị dính với vòi, bầu dƣới.
Gần với họ Magnoliaceae. Một số cây có giá trị làm thuốc (Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam) 1. NGHIÊN CỨU VỀ HỌ MỘC HƢƠNG TRÊN THẾ GIỚI Họ mộc hƣơng (Aristolochiaceae) đƣợc Linnaneus (1753) đặt tên và mô tả, phân bố ở vùng ôn đới của Bắc bán cầu, các khu vực Đông Á từ Hymalaya đến lục địa Trung Quốc, Đài Loan, Nhật BẢn, Hàn quốc… Trên thế giới, hiện còn khoảng 90 loài thuộc chi Asarum .L tập chung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á một vài loài ở khu vực bắc Mĩ ,một vài loài đặc hữu ở khu vực Châu Âu 39 loài ở Trung Quốc trong đó có 34 loài đặc hữu.Việt Nam có 7 loài thuộc chi Asarum L, tại Trung Quốc thì chúng đƣợc phân bố ở Quảng Đông, Giang Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc. 1 Wu-Zheng-yi et al (2003) đã công bố trong thực vật chí trung quốc có 39 loài và 4 thứ thuộc chi Asarum L, Yong Wang et al (2004) đã bổ sung thêm một loài mới cho chi Asarum ở Trung Quốc là Asarum Campiniflorum Wang Yong & Wang Q.F,… nâng tổng số loài lên 40 loài.(1995,2010) công bố chi Asarum L trên tạp chí Taiwania có 6 loài gồm (Asarum caudigerum, A.
tiapingshanianum), Chang-tse Lu et al. (2010) đã bổ sung thêm 5 loài mới ở đoài loài là A.satsumense, nâng tổng số lên 11 loài thuộc chi Asarum L. Hwang Shu-mei và Wang siu Tak-Ping (1990) đã phát hiện loài mới thuộc chi Asarum và đặt tên là A. Cho đến nay, A.hongkongense là loài duy nhất của chi Asarum mới gặp phân bố tại Hồng Kong.
Ohwi J (1965) đã thống kê có 4 loài Asarum caulesens Maxim, A. Cho đến năm 1991, Satake và Momyama (1982) và Sugawara T (1991) đã thống kê đƣợc 40 loài thuộc chi Asarum tại Nhật Bản. Trong những nghiên cứu tiếp theo ,Sugawara T (1996) đã bổ sung thêm 2 loài mới A. Cho hệ thực vật của quốc gia này.
Oh Byohung-Un và nnk (1997) đã công bố một loài mới là Asarum misandrum B.kim, nâng tổng số loài thuộc chi Asarum lên 7 loài và 3 thứ Ở malaysia, hiện có 6 loài Asarum arifolium Michuax, A. Ở Bắc Mỹ có 6 loài thuộc chi Asarum, trong đó có 2 loài khá phổ biến và có phân bố rộng: một loài ở phía đông (Asarum canadense) và một loài ở phía tây (Asarum caudatum), hai loài đặc hữu ở califonia (A.hartwegii), một loài khác đặc hữu ở Oregon (một tiểu Bang ở phía tây bắc Thái Bình Dƣơng của Hoa Kì ) là Asarum wagneri và một loài khác nữa (A.marmoratum) đƣợc trồng ở phía tây Oregon và phía bắc califonia ; có 2 thứ là Asarum canadense var canadense và Asarum canadense var reflexum ở các tiểu Bang Carolinas , virginia và Georgia thuộc vùng tây bắc Thái Bình Dƣơng của Hoa Kì. Cho đến nay, các dẫn liệu về đặc điểm hình thái,sinh học và phân bố của họ Mộc hƣơng chỉ đƣợc đề cập đến qua các công trình phân loại ở Trung Quốc. Những nghiên cứu về hoạt tính sinh học của loài này trên thế giới hầu nhƣ chƣa có.
NGHIÊN CỨU VỀ HỌ MỘC HƢƠNG TRONG NƢỚC Việt Nam là nƣớc có giá trị sinh học đa dạng cao và phong phú với gần 12000 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc hơn 2256 chi, 305 họ; 69 loài thực vật hạt trần; 12000 loài thực vật hạt kín (theo IUCN). Theo thời gian, các công trình khoa học về thực vật góp phần làm tăng vốn cơ sở dữ liệu cho các mục đích bảo tồn và phát triển, các thông tin về họ đƣợc tìm thấy trong những cuốn sách hay tài liệu về ngành Cuốn “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” (Nxb. Thế giới, năm 1994) ghi nhận họ mộc hƣơng có 2 chi/10 loài có tác dụng làm thuốc chữa bệnh trong dân gian. Theo Nguyễn Tiến Bân (1997), Ở Việt Nam có 3 chi Aristolochia, Asarum, Thottea với khoảng 20 loài.
Năm 1999, Phạm Hoàng Hộ đã liệt kê 21 loài thực vật họ Mộc hƣơng (lúc bấy giờ gọi là họ Phòng Kỷ) trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam” Năm 1999, Nxb Khoa học và Kỹ thuật xuất bản cuốn “Một số đặc điểm cơ bản của hệ Thực vật Việt Nam” có nêu tên 20 loài thực vật họ Mộc hƣơng, thuộc 3 chi Aristolochia, Asarum và Thottea. Năm 2011, cuốn sách “Tên cây rừng Việt Nam” có ghi tên 12 loài thực vật trong họ Mộc hƣơng. Năm 2012, Nguyễn Anh Tuấn và Trần Huy Thái đã tiến hành điều tra đặc điểm sinh thái và phân bố của loài Biến hóa núi cao tại Bản Bung, Na Hang, 3 Tuyên Quang, cũng tại địa điểm đó họ đã nghiên cứu về loài Thổ Tế Tân năm 2013. Trong quá trình nghiên cứu tính đa dạng của chi Aristolochia L.
(Aristolochiaceae), Một nhóm các nhà nghiên cứu thực vật học thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Sinh thái học miền Nam trực thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN và Viện Thực vật, ĐH Tổng hợp Dresden, CHLB Đức đã phát hiện và mô tả lần lƣợt 7 loài thực vật mới thuộc họ Mộc hƣơng (Aristolochiaceae)Việt Nam gồm: Phòng kỷ Nam Bộ - Aristolochia cochinchinensis Do. Mộc hƣơng Favio - Aristolochia faviogonzalezii T.Neinhuis Mộc hƣơng Tà Đùng - Aristolochia tadungensis T. Luu Mộc hƣơng Bắc - Aristolochia tonkinensis T. Wanke Mộc hƣơng Trung Bộ - Aristolochia annamensis Do, Wanke & Neinhuis Phòng kỷ Quảng Bình - Aristolochia quangbinhensis Do.
Phòng kỷ Xuân liên - Aristolochia xuanlienensis Cũng trong năm 2015, Luận án Tiến sĩ sinh học của Nguyễn Anh Tuấn đã nghiên cứu các cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các loài quý hiếm trong chi Tế Tân (Asarum L. Qua đó bổ sung hai loài Asarum cordifolim C.C Fischer và Asarum yunnanense T. Cheng cho hệ thực vật Việt Nam, khóa định loại và đặc điểm các loài thuộc chi Tế tân (Asarum L.) tại Việt Nam. Đến nay, nghiên cứu về họ Mộc hƣơng trong nƣớc hầu chƣa có gì đáng kể, hầu hết dừng lai ở việc phát hiện loài và phân bố của loài.
Nhiều loài đã đƣợc biết đến và một số loài mới đƣợc phát hiện với số lƣợng rất ít đang đứng trƣớc nguy cơ bị tiệt chủng do không đƣợc biết đến và bảo vệ. Đây là vấn đề mang tính cấp thiết có nhiều ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn cao, cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về họ và các loài trong họ để làm cơ sở 4 khoa học cho công tác bảo tồn, phục hồi và phát triển bền bững tính đa dạng của họ Mộc hƣơng ở Việt Nam nói chung và các tỉnh phân bố loài nói riêng. Theo kết quả nghiên cứu tài liệu tôi rút ra đƣợc danh lục các loài thực vật họ Mộc hƣơng trong bảng dƣới đây: Bảng 1. Danh lục các loài thực vật Mộc hƣơng tại Việt Nam STT Tên Loài Chi 1 Aristolochia annamensis 2 Aristolochia contorta 3 Aristolochia elegans Mast 4 Aristolochia dongnaiense 5 Aristolochia faviogonzalezii Aristolochia 6 Aristolochia indica 7 Aristolochia kaempferi Willd 8 Aristolochia kwangsiensis 9 Aristolochia quangbinhensis Do 10 Aristolochia tadungensis 11 Aristolochia tagala 12 Aristolochia tonkinensis 13 Aristolochia tuberosa 14 Aristolochia xuanlienensis 15 Asarum balansae Franch 16 Asarum blumei 17 Asarum caudigerum Asarum 18 Asarum cordifolium 19 Asarum glabrum 20 Asarum maximum 21 Asarum petelotii 22 Asarum reticulatum Merr 23 Asarum yunnanense 24 Thottea tomentosa Bl.
Ding Hou Thottea 5 Chƣơng 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. MỤC TIÊU CHUNG Dựa vào kết quả nghiên cứu của tôi góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu cho KBT, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển 2.