Tổng quan nghiên cứu

Bê tông là vật liệu xây dựng phổ biến và quan trọng trong ngành xây dựng toàn cầu và Việt Nam. Theo ước tính tại Hội nghị quốc tế lần thứ 7 của Liên đoàn Bê tông châu Á năm 2018, hàng năm có khoảng 35 tỷ tấn bê tông được sản xuất trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, năm 2019, lượng bê tông sử dụng đạt khoảng 140 triệu tấn, trong đó 50% sản xuất tại các cơ sở thương phẩm và 50% sản xuất thủ công. Bê tông có ưu điểm về chi phí thấp, dễ tạo hình, chịu nén cao, chịu nhiệt và chịu nước tốt. Tuy nhiên, bê tông truyền thống có nhược điểm là giòn, chịu kéo kém và dễ nứt, ảnh hưởng đến độ bền và tuổi thọ công trình.

Để khắc phục nhược điểm này, việc gia cường bê tông bằng các loại sợi chịu kéo như thép, sợi tổng hợp, hoặc sợi tự nhiên được quan tâm. Sợi tự nhiên có ưu điểm thân thiện môi trường, chi phí thấp và có thể tái tạo, phù hợp với xu hướng phát triển bền vững. Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có nguồn nguyên liệu sợi tự nhiên phong phú như xơ dừa, rơm, lục bình, là các phụ phẩm nông nghiệp chưa được tận dụng hiệu quả, gây lãng phí và ô nhiễm môi trường.

Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tính chất cơ lý của bê tông cốt sợi tự nhiên tại ĐBSCL, tập trung vào các loại sợi phổ biến như xơ dừa (đã xử lý NaOH và chưa xử lý), rơm và lục bình, nhằm cải thiện khả năng chịu kéo và chống nứt của bê tông. Nghiên cứu thực hiện trên các cấp phối bê tông M100 và M300, với các hàm lượng và chiều dài sợi khác nhau, nhằm xác định hàm lượng tối ưu và ảnh hưởng của xử lý sợi đến tính chất cơ học của bê tông. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong việc phát triển vật liệu xây dựng thân thiện môi trường, tận dụng nguồn nguyên liệu địa phương và góp phần bảo vệ môi trường tại ĐBSCL.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết về sự tương tác giữa sợi và vật liệu nền trong bê tông cốt sợi (BTCS). Sợi trong bê tông có vai trò truyền tải trọng, bắc cầu qua vết nứt, tăng cường độ chịu kéo và độ dẻo dai của vật liệu. Quá trình truyền ứng suất giữa sợi và vật liệu nền được mô hình hóa qua các cơ chế truyền ứng suất trượt đàn hồi và ma sát tại mặt phân cách sợi - vật liệu nền. Lý thuyết này phân tích sự phân bố ứng suất dọc sợi và ứng suất trượt tại mặt phân cách, ảnh hưởng của chiều dài sợi, mô đun đàn hồi của sợi và vật liệu nền đến hiệu quả gia cường.

Ngoài ra, nghiên cứu áp dụng mô hình phát triển vết nứt trong BTCS, trong đó sợi có chức năng làm cầu nối qua vết nứt, ngăn ngừa sự lan rộng và mở rộng vết nứt, đồng thời hấp thụ năng lượng phá hoại. Các khái niệm chính bao gồm: cường độ nén, cường độ kéo do uốn, độ linh động (độ sụt), hàm lượng sợi, chiều dài sợi, và ảnh hưởng của xử lý hóa học (NaOH) lên tính chất sợi.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu chính là các mẫu bê tông cốt sợi được chế tạo từ các loại sợi tự nhiên phổ biến tại ĐBSCL: xơ dừa (xử lý và không xử lý NaOH), rơm, và lục bình. Các mẫu được chuẩn bị theo cấp phối bê tông M100 và M300 với các hàm lượng sợi khác nhau (từ 2% đến 6%) và chiều dài sợi từ 1-2 cm đến 2-3 cm.

Phương pháp phân tích bao gồm:

  • Thí nghiệm xác định cường độ nén theo TCVN 3118:1993, sử dụng mẫu trụ kích thước 90x180 mm, với hệ số hiệu chỉnh α = 1,16.
  • Thí nghiệm uốn 4 điểm xác định cường độ kéo do uốn theo TCVN 3118:1993, mẫu dầm kích thước 100x100x400 mm, hệ số hiệu chỉnh γ = 1,05.
  • Thí nghiệm độ linh động (độ sụt) của hỗn hợp vữa xi măng cát theo TCVN 3106:1993, sử dụng côn N1.
  • Đo bề rộng vết nứt khi uốn gãy mẫu bằng thước thép để đánh giá khả năng hạn chế nứt của bê tông cốt sợi.

Quy trình thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm kết cấu công trình, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2020. Cỡ mẫu thí nghiệm đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy, với ít nhất 3 mẫu cho mỗi tổ hợp cấp phối và điều kiện thí nghiệm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Ảnh hưởng của sợi xơ dừa lên cường độ nén và kéo uốn của bê tông M100:

    • Hàm lượng sợi xơ dừa tối ưu trong khoảng 4% - 6%.
    • Tại hàm lượng 4%, cường độ nén tăng tối đa 50% so với mẫu nền không có sợi.
    • Tại hàm lượng 6%, cường độ kéo do uốn tăng tối đa 105%.
    • Chiều dài sợi (1-2 cm và 2-3 cm) không ảnh hưởng nhiều đến cường độ nén nhưng ảnh hưởng rõ rệt đến cường độ kéo do uốn, sợi dài cho kết quả tốt hơn.
  2. Ảnh hưởng của sợi xơ dừa lên bê tông M300:

    • Hàm lượng sợi tối ưu trong khoảng 2% - 4%.
    • Sợi xơ dừa làm giảm cường độ nén nhưng tăng cường độ kéo do uốn so với mẫu nền.
    • Sợi xơ dừa cho kết quả vượt trội hơn so với sợi rơm và sợi lục bình.
    • Việc xử lý NaOH không ảnh hưởng đáng kể đến cường độ của bê tông cốt sợi.
  3. Tính công tác và khả năng hạn chế vết nứt:

    • Độ linh động (độ sụt) của hỗn hợp vữa giảm khi tăng hàm lượng sợi, do sợi làm tăng ma sát và giảm tính lưu động của hỗn hợp.
    • Bề rộng vết nứt khi uốn gãy giảm khi tăng hàm lượng sợi, chứng tỏ sợi có tác dụng hạn chế sự phát triển vết nứt.
  4. So sánh giữa các loại sợi tự nhiên:

    • Sợi xơ dừa có hiệu quả gia cường tốt nhất, tiếp theo là sợi lục bình và sợi rơm.
    • Chiều dài sợi và xử lý hóa học có ảnh hưởng khác nhau tùy thuộc vào loại sợi và cấp phối bê tông.

Thảo luận kết quả

Kết quả cho thấy sợi tự nhiên, đặc biệt là xơ dừa, có khả năng cải thiện đáng kể tính chất cơ lý của bê tông, nhất là khả năng chịu kéo và chống nứt. Việc tăng cường cường độ kéo do uốn lên đến 105% ở bê tông M100 với hàm lượng sợi 6% cho thấy tiềm năng ứng dụng lớn trong xây dựng các công trình cần độ bền kéo cao.

Sự giảm cường độ nén ở bê tông M300 khi thêm sợi xơ dừa có thể do sự ảnh hưởng của sợi lên cấu trúc vật liệu nền, làm giảm tính liên kết của bê tông cường độ cao. Tuy nhiên, sự tăng cường độ kéo do uốn vẫn duy trì, phù hợp với mục tiêu chống nứt.

So với các nghiên cứu trước đây về bê tông cốt sợi tổng hợp hoặc sợi thép, sợi tự nhiên có ưu điểm về chi phí, thân thiện môi trường và nguồn nguyên liệu tái tạo dồi dào tại ĐBSCL. Việc xử lý NaOH không làm thay đổi đáng kể tính chất cơ học cho thấy có thể tiết kiệm chi phí xử lý trong sản xuất bê tông c