phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có cấu trúc gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan và cơ sở lí thuyết liên quan đề tài Chương 2. Sự tiếp nhận hành động cầu khiến của trẻ thiểu năng ngôn ngữ (3-6 tuổi) Chương 3. Sự biểu đạt hành động cầu khiến của trẻ thiểu năng ngôn ngữ (3-6 tuổi) 13 Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI Chƣơng này tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về sự tiếp nhận và biểu đạt lời nói, HĐ ngôn từ và HĐCK của trẻ em nói chung và trẻ TNNN nói riêng, đồng thời giới thiệu một số lí thuyết nền tảng của luận án nhƣ: lí thuyết hội thoại và HĐ ngôn từ, HĐCK, lí thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất của trẻ em và đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ TNNN (gồm trẻ KT và trẻ bị KHMV). Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu trên thế giới về sự tiếp nhận, biểu đạt lời nói, hành động ngôn từ và hành động cầu khiến 1. Nghiên cứu sự tiếp nhận và biểu đạt lời nói Việc nghiên cứu sự tiếp nhận và biểu đạt lời nói nổi bật nhất là hai quan điểm của các nhà nghiên cứu Mỹ và Liên Xô (cũ) với hai cơ sở lí luận tâm lí học khác nhau: hƣớng tâm lí học hành vi và hƣớng tâm lí học hoạt động.
Nghiên cứu sự tiếp nhận lời nói: Từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu tiền tâm lí ngôn ngữ học của H. đã trình bày một số kết quả nghiên cứu về sự tiếp nhận lời nói. Song phải đến cuối những năm 60, đầu những năm 70 của thế kỉ XX, những nghiên cứu sâu về vấn đề này mới phát triển mạnh mẽ, gắn với tên tuổi của nhiều nhà tâm lí ngôn ngữ học ở nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó đáng chú ý nhất là các nhà nghiên cứu Mỹ nhƣ: R. và các nhà nghiên cứu Liên Xô nhƣ: L.
Đặc điểm rõ nhất của các nghiên cứu về tiếp nhận lời nói ở các tác giả Mỹ là dựa trên các quan điểm của tâm lí học hành vi và quan niệm coi ngôn ngữ là cái bẩm sinh. Còn các nhà nghiên cứu Liên Xô là dựa trên quan điểm tâm lí học hoạt động và quan niệm coi ngôn ngữ là cái tự tạo [40]. 14 Nghiên cứu sự biểu đạt lời nói: Nghiên cứu về sự sản sinh hay biểu đạt lời nói cũng ngày càng nổi bật trong giao tiếp ngôn ngữ cùng với sự phát triển ngày càng chuyên sâu của tâm lí ngôn ngữ học. Nghiên cứu về biểu đạt lời nói dựa trên cơ sở tâm lí học hành vi đƣợc phát triển rất mạnh ở Mỹ, dƣới một tên chung là ngữ pháp tạo sinh.
Về thực chất, ngữ pháp tạo sinh mới dừng lại ở cấp độ cú pháp, tức mức độ tạo sản câu nói. Các tác giả có nhiều thành công trong lĩnh vực này là Ch. Những nghiên cứu về sản sinh lời nói dựa trên cơ sở tâm lí học hoạt động đƣợc phát triển rất mạnh ở Liên Xô, với một cơ sở lí luận khoa học, duy vật và biện chứng. Vấn đề sản sinh lời nói đƣợc xem xét khá toàn diện và đầy đủ.
Theo hƣớng nghiên cứu này, các tác giả có nhiều thành công trong xây dựng mô hình sản sinh lời nói là L. Điều nổi bật trong các mô hình của các tác giả này là tính đến các đặc điểm tiền ngôn ngữ, ngoài ngôn ngữ, các nhân tố tâm lí cá nhân và tính tích cực của ngƣời mang ngôn ngữ trong quá trình sản sinh lời nói [40], [62]. Phát triển tƣ tƣởng tâm lí học hoạt động vào giải quyết các vấn đề của ngôn ngữ và lời nói, L.Vygotsky đã chỉ ra bản chất của ngôn ngữ và lời nói là hoạt động và chính ông là ngƣời đề xuất mô hình sản sinh lời nói theo quan điểm hoạt động. Kế tục và phát triển quan điểm của L.Vygotsky, nhiều nhà tâm lí học Hoạt động đã xem xét và giải quyết vấn đề sản sinh lời nói khá toàn diện, hợp lí và thống nhất [40].
Nghiên cứu về hành động ngôn từ và hành động cầu khiến của trẻ em Trên thế giới, việc nghiên cứu HĐ ngôn từ của trẻ em cũng đƣợc quan tâm từ rất sớm. Vào những năm 70, 80 của thế kỉ XX, các nghiên cứu tập trung vào chức năng của ngôn ngữ và cách mà trẻ học để sử dụng đƣợc các chức năng ngôn ngữ này vào quá trình tƣơng tác. Quá trình phát triển HĐ ngôn từ của trẻ: Năm 1975, tác giả Bruner đã miêu tả các HĐ ngôn từ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận ngôn ngữ, cụ thể là ngữ pháp của trẻ nhỏ. Các yếu 15 tố cơ bản trong sự tƣơng tác giữa mẹ và con đƣợc quan tâm.
Khi ngƣời mẹ và đứa trẻ có cùng sự chú ý thì ngƣời mẹ sẽ nói về sự vật nào đó hoặc làm điều gì đó. Đây đƣợc coi là cơ sở cho việc hình thành các cấu trúc ngữ pháp cơ bản nhƣ sự vật – định danh và sự vật – hành động và đây cũng chính là HĐ ngôn từ đầu tiên mà trẻ tiếp nhận đƣợc gọi là hành động gán nhãn/ định danh [dẫn theo 70]. Gán nhãn/ định danh có thể đƣợc xem nhƣ là một ví dụ cho kiểu HĐ bày tỏ (statements) mặc dù hình thức ban đầu của nó là thực hiện chức năng của HĐ điều khiển (directives). Tác giả Dore đã sử dụng các ý đồ giao tiếp của trẻ nhỏ nhƣ một khung chung trong nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em.
Ông đề xuất sử dụng HĐ ngôn từ nhƣ là các đơn vị phân tích trong việc nghiên cứu ngôn ngữ trẻ nhỏ ở giai đoạn trẻ nói tiếng một, đồng thời miêu tả việc trẻ tạo ra các “hành động ngôn từ sơ khai” với phát ngôn tiếng một nhƣ thế nào. HĐ ngôn từ sơ khai nói đến cái gì đó và kết hợp với một số dấu hiệu khác nhƣ ngữ điệu hay cử chỉ. Với lí thuyết này, tác giả Dore có thể giải thích đƣợc rằng làm thế nào mà một đứa trẻ có thể thể hiện đƣợc hai nghĩa chỉ bằng cách nói một từ đơn lẻ. Ví dụ trẻ chỉ cần nói “bóng” để định danh sự vật, nhƣng nó có thể là một HĐ điều khiển với ý nghĩa là trẻ muốn có sự vật đó [dẫn theo 85].
Theo tác giả Dore [dẫn theo 97, tr. 228], “dƣới 5 tuổi, trẻ thƣờng sử dụng các HĐ ngôn từ sơ khai, gồm: định danh/ gọi tên (labeling), kể lại (repeating), yêu cầu một HĐ (requesting an action), yêu cầu câu trả lời (requesting an answer), gọi (calling), chào hỏi (greeting), phản đối (protesting), vận dụng (practicing)”. Lí thuyết này cũng đƣợc Halliday ủng hộ [dẫn theo 85]. Theo Halliday, có một vài chức năng ngữ dụng sớm ở trẻ.
Đầu tiên là chức năng công cụ, ví dụ nhƣ “Tôi muốn, tôi cần” với ý nghĩa là trẻ đang cố gắng nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn. Tiếp theo là chức năng điều chỉnh ví dụ “hãy làm nhƣ tôi nói với bạn”. Phát ngôn kiểu này có ý nghĩa là trẻ đang cố gắng kiểm soát hành vi của ngƣời khác. Thứ ba là chức năng tƣơng tác liên nhân, ví dụ nhƣ “tôi và bạn”.
Với chức năng này, trẻ đang thiết lập và xác định mối quan hệ xã hội và cố gắng tham gia vào giao thiệp xã 16 hội. Chức năng nữa là chức năng cá nhân, ví dụ “Tôi đến đây”. Nghĩa là trẻ thể hiện cá tính hoặc đƣa ra quan điểm, cảm nhận riêng. Tiếp đó là chức năng tƣởng tƣợng, ví dụ “hãy giả vờ”.
Ở chức năng này, trẻ dùng các từ ngữ thể hiện khả năng tƣởng tƣợng sáng tạo. Cuối cùng là chức năng khám phá, nghĩa là trẻ tìm kiếm thông tin. Chức năng này có nghĩa là trẻ cung cấp các thông tin, ví dụ nhƣ “tôi có một vài điều muốn nói với bạn”. Tùy vào từng lứa tuổi và giai đoạn phát triển, trẻ có những HĐ ngôn từ với các chức năng khác nhau.
Khi trẻ lớn lên, trẻ sẽ bắt đầu sử dụng các HĐ ngôn từ càng ngày càng phức tạp hơn. Các nhà nghiên cứu Snow, Pan, Imbens-Bailey & Herman (1996) [dẫn theo 83] chỉ ra rằng khi trẻ 1 tuổi 2 tháng đã sử dụng HĐ điều khiển nhƣ cầu khiến và cũng có thể sử dụng một số HĐ bày tỏ đơn giản và làm chủ đƣợc việc tạo ra lời chào hỏi, đƣa ra câu trả lời. Đến 1 tuổi 8 tháng hầu hết các trẻ đã có thể đáp lại các HĐ điều khiển bằng cách đồng ý hoặc từ chối thực hiện yêu cầu; trẻ cũng có thể sử dụng các HĐ ra lệnh để nêu ý định của mình; trẻ cũng có thể trả lời các câu hỏi có/ không. Khoảng 2 tuổi 8 tháng việc tạo ra các HĐ hỏi với các câu hỏi có/ không và việc đáp lại các HĐ điều khiển mới thể hiện một cách rõ ràng.
Từ năm 1978, tác giả Brian P. Tác giả đã xem xét các cách giải thích của trẻ nhỏ (ở lớp 1 và lớp 3) về nghĩa của HĐ ngôn từ gián tiếp trong các cấu trúc điều khiển không quy ƣớc, đặt trong sự so sánh với ngƣời lớn. Kết quả cho thấy trẻ em cũng nhƣ ngƣời lớn đã giải thích nghĩa theo ngữ cảnh một cách rất nhạy cảm ở các HĐ ngôn từ gián tiếp. Theo nghiên cứu của tác giả Dyah Anita D.
HĐ tuyên bố chƣa xuất hiện trong cuộc hội thoại của trẻ. 17 Trong công trình “Trẻ hiểu điệu bộ giao tiếp và HĐ ngôn từ nhƣ thế nào”, tác giả Monica Bucciarelli và cộng sự (2002) [78] đã đƣa ra đề xuất khung giải thích các hiện tƣợng ngữ dụng vốn rất đa dạng. Đặc biệt, tác giả đã nghiên cứu các khả năng hiểu các hành vi giao tiếp trực tiếp, gián tiếp, HĐ châm biếm, mỉa mai. Nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm trên 160 trẻ, chia làm bốn nhóm, mỗi nhóm 40 trẻ ở các độ tuổi khác nhau (từ 2 tuổi 6 tháng – 3 tuổi, 3 tuổi 6 tháng – 4 tuổi, 4 tuổi 6 tháng – 5 tuổi 6 tháng và 6 – 7 tuổi).
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thay đổi dần dần về mức độ khó của các kiểu HĐ ngôn từ và các cử chỉ, điệu bộ giao tiếp. Kết quả cũng cho chúng ta thấy rằng trong mỗi hiện tƣợng, ngƣời tham gia thực hiện tốt nhƣ nhau ở cả HĐ ngôn từ và cả ở cử chỉ, điệu bộ giao tiếp.