Nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu và phân bố của loài vượn siki nomascus siki delacour 1951 tại khu đề xuất bảo tồn khe nước trong quảng bình

Chuyên khảo phân tích Nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu và phân bố của loài vượn siki nomascus siki delacour 1951 tại khu đề, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận

2018

99
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu tiếng kêu vượn siki tại Quảng Bình

Nghiên cứu tiếng kêu và phân bố của loài vượn siki (Nomascus siki) tại Quảng Bình là một chủ đề quan trọng trong bảo tồn động vật hoang dã. Vượn siki là một trong những loài linh trưởng quý hiếm, có giá trị sinh học cao. Việc hiểu rõ về tiếng kêu và phân bố của chúng sẽ giúp nâng cao hiệu quả bảo tồn. Khu vực Quảng Bình, với hệ sinh thái phong phú, là nơi lý tưởng để thực hiện nghiên cứu này.

1.1. Đặc điểm sinh học của vượn siki tại Quảng Bình

Vượn siki có đặc điểm hình thái và sinh thái độc đáo. Chúng thường sống trong rừng nhiệt đới ẩm, ưa thích các khu vực có độ cao từ 30-100m. Đặc biệt, tiếng kêu của vượn siki rất đặc trưng, giúp xác định lãnh thổ và thu hút bạn tình.

1.2. Tình trạng bảo tồn vượn siki tại Quảng Bình

Vượn siki hiện đang đối mặt với nhiều nguy cơ từ việc mất môi trường sống và săn bắn. Tình trạng này đòi hỏi các biện pháp bảo tồn hiệu quả để duy trì quần thể vượn siki tại khu vực này.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu vượn siki

Nghiên cứu tiếng kêu và phân bố của vượn siki tại Quảng Bình gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như môi trường sống bị suy giảm, áp lực từ con người và thiếu dữ liệu nghiên cứu là những vấn đề chính. Việc xác định chính xác vùng phân bố của loài này là rất cần thiết để có những biện pháp bảo tồn phù hợp.

2.1. Môi trường sống và sự suy giảm của vượn siki

Môi trường sống của vượn siki đang bị đe dọa bởi nạn phá rừng và phát triển kinh tế. Điều này dẫn đến sự suy giảm quần thể và làm giảm khả năng sinh sản của chúng.

2.2. Thiếu dữ liệu và nghiên cứu về vượn siki

Hiện tại, có rất ít nghiên cứu về vượn siki tại Quảng Bình. Thiếu dữ liệu về tiếng kêu và phân bố của chúng gây khó khăn trong việc xây dựng các chiến lược bảo tồn hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu tiếng kêu vượn siki hiệu quả

Để nghiên cứu tiếng kêu và phân bố của vượn siki, cần áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại. Việc sử dụng thiết bị ghi âm và phân tích âm thanh sẽ giúp thu thập dữ liệu chính xác về tiếng kêu của loài này. Ngoài ra, các phương pháp điều tra ngoại nghiệp cũng rất quan trọng để xác định vùng phân bố.

3.1. Sử dụng thiết bị ghi âm trong nghiên cứu

Thiết bị ghi âm giúp thu thập âm thanh tiếng kêu của vượn siki trong môi trường tự nhiên. Dữ liệu này sẽ được phân tích để xác định các đặc điểm âm học của loài.

3.2. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

Phương pháp điều tra ngoại nghiệp bao gồm việc khảo sát thực địa để ghi nhận sự hiện diện của vượn siki. Điều này giúp xác định chính xác vùng phân bố và tình trạng quần thể của chúng.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về tiếng kêu và phân bố của vượn siki tại Quảng Bình sẽ cung cấp thông tin quý giá cho công tác bảo tồn. Những dữ liệu thu thập được sẽ giúp các nhà quản lý xây dựng các kế hoạch bảo tồn hiệu quả hơn. Việc bảo tồn vượn siki không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh học mà còn góp phần vào việc duy trì đa dạng sinh học tại khu vực.

4.1. Đặc điểm tiếng kêu của vượn siki

Nghiên cứu cho thấy tiếng kêu của vượn siki có nhiều đặc điểm độc đáo, phản ánh sự đa dạng trong giao tiếp của chúng. Điều này có thể giúp xác định các quần thể khác nhau trong khu vực.

4.2. Phân bố và tình trạng quần thể vượn siki

Kết quả nghiên cứu cho thấy vượn siki chủ yếu phân bố tại các khu vực rừng nguyên sinh. Tuy nhiên, tình trạng quần thể đang bị đe dọa nghiêm trọng do các yếu tố môi trường và con người.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho vượn siki

Nghiên cứu tiếng kêu và phân bố của vượn siki tại Quảng Bình mở ra nhiều triển vọng cho công tác bảo tồn. Việc hiểu rõ về loài này sẽ giúp xây dựng các chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn. Tương lai của vượn siki phụ thuộc vào sự nỗ lực của cộng đồng và các cơ quan chức năng trong việc bảo vệ môi trường sống của chúng.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn vượn siki

Bảo tồn vượn siki không chỉ bảo vệ một loài động vật mà còn bảo vệ cả hệ sinh thái nơi chúng sống. Điều này có ý nghĩa lớn đối với sự đa dạng sinh học tại Việt Nam.

5.2. Các biện pháp bảo tồn cần thiết

Cần triển khai các biện pháp bảo tồn như bảo vệ môi trường sống, giáo dục cộng đồng và tăng cường giám sát các hoạt động săn bắn để bảo vệ vượn siki hiệu quả hơn.

15/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu và phân bố của loài vượn siki nomascus siki delacour 1951 tại khu đề xuất bảo tồn khe nước trong quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Phân bố khắp Việt Nam, vƣợn đƣợc xem là họ hàng gần nhất của loài ngƣời và cũng là một chỉ số để chúng ta cân nhắc cách chung sống trong sự đa dạng đáng kể của hệ động, thực vật mà trong đó Việt Nam là một địa điểm nổi tiếng về điều này. Việt Nam là một đất nƣớc đã và đang có sự chuyển đổi chóng mặt để phát triển kinh tế do đó các loài vƣợn hiện nay đang phải trải qua một cuộc khủng hoảng. Trong vài thập kỷ qua, hiện tƣợng săn bắn và mất môi trƣờng sống đã làm vƣợn suy giảm nghiêm trọng trên khắp đất nƣớc. Ở những nơi tốt nhất, các quần thể Vƣợn còn lại cũng tồn tại với mật độ thấp hơn đáng kể so với mật độ tự nhiên, còn tại những nơi tồi tệ nhất chúng đang phải đối mặt với sự tuyệt chủng cục bộ.

Khi có sự săn bắt bằng súng tại một khu vực nào đó, vƣợn thƣờng là những loài biến mất đầu tiên mặc dù chúng không hẳn là các mục tiêu chính, tuy nhiên chúng là một phần trong những sản phẩm săn bắn khi các thợ săn có cơ hội chặt các cây là nơi cƣ trú của các loài hoang dã mà họ có thể thấy đƣợc (Rawson và cộng sự. Tốc độ sinh sản chậm ở vƣợn đồng nghĩa với việc các quần thể suy giảm nhanh chóng kể cả khi áp lực săn bắn thấp, nghĩa là các quần thể nếu có thể phục hồi thì cũng chậm chạp. Bởi vậy những gì đang xảy ra với vƣợn lại rất quan trọng đối với sự dồi dào của đa dạng sinh vật tại Việt Nam và ngày càng trở nên quan trọng hơn khi mà môi trƣờng tự nhiên đang phải chịu thêm nhiều áp lực từ các sức ép về phát triển. Hiện nay, tại Việt Nam, các nhà khoa học đã ghi nhận đƣợc sáu loài Vƣợn mào Nomascus.

Sự đa dạng về vƣợn cho thấy sự đa dạng về sinh vật của nói chung của Việt Nam. Tuy nhiên, các quần thể vƣợn ở Việt Nam đang suy giảm và đó cũng là xu hƣớng của các quần thể động vật hoang dã nói chung (Rawson và cộng sự. Theo Rawson (2011), khu phân bố của Vƣợn siki (Nomascus siki), bị cho là đã hạn hẹp hơn rất nhiều. Và không có đủ dữ liệu để đánh giá một cách định lƣợng xu hƣớng của Vƣợn siki tuy nhiên tất cả chỉ số đều cho thấy rằng săn bắn 1 đang là nguy cơ chủ yếu của sự suy giảm liên tục về số lƣợng của loài này ở Việt Nam.

Cho tới nay, giới hạn phân bố về phía Bắc của Vƣợn siki chƣa đƣợc biết rõ, có thể nằm ở gần Khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Khe Nét, tỉnh Quảng Bình và KBTTN Kẻ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh; về phía Nam đến sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị (Rawson và cộng sự. Loài này đƣợc xếp ở mức Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và thuộc nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên Khe Nƣớc Trong nằm ở miền Trung Việt Nam chứa một khu hệ động vật đa dạng, phong phú. Khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Khe Nƣớc Trong nằm ở huyện Lệ Thủy, phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình, giáp với biên giới Việt Nam - Lào và KBTTN Bắc Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

Khu vực này có diện tích 19.188 ha, bao gồm chủ yếu là rừng nhiệt đới thƣờng xanh nằm trong vùng sinh thái đất thấp miền Trung rộng lớn (khoảng 500.000 ha) kéo dài dọc biên giới Việt - Lào từ huyện Minh Hóa nối liền với các huyện Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình sang huyện Hƣớng Hóa tỉnh Quảng Trị. Đây là khu vực có diện tích rừng tự nhiên trên đất thấp liên tục lớn nhất ở Việt Nam. Đặc biệt hơn, Khu đề xuất BTTN Khe Nƣớc Trong còn bảo tồn đƣợc một diện tích lớn kiểu rừng nhiệt đới ẩm thƣờng xanh nguyên sinh trên vùng đất thấp. Sự hiện diện của Vƣợn siki trong khu vực đã đƣợc ghi nhận trong nhiều năm gần đây.

Để hiểu rõ hơn về tập tính, đặc điểm tiếng kêu, vùng phân bố của các quần thể Nomascus siki nói chung ở Việt Nam và đặc biệt ở khu đề xuất bảo tồn Khe Nƣớc Trong tại Quảng Bình từ đó cung cấp những dẫn liệu khoa học góp phần vào việc bảo tồn loài linh trƣởng quý giá này, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu và phân bố của loài Vượn siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại khu đề xuất bảo tồn Khe Nước Trong, Quảng Bình” 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại học thú linh trưởng Việt Nam Cũng giống nhƣ hệ thống phân loại Linh trƣởng trên thế giới, phân loại linh trƣởng ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.1 Tổng kết phân loại thú Linh trƣởng ở Việt Nam theo thời gian Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn thông tin 2001 3 24 Groves (2001) 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2003 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) Mặc dù có sự khác nhau về quan điểm, các tác giả đều cơ bản thống nhất rằng Linh trƣởng Việt Nam có 3 họ chính: họ Cu li (Loridae), họ khỉ (Cercopithecidae) và họ Vƣợn (Hylobatidae); số loài và phân loài dao động từ 24 đến 25. Trong hệ thống phân loại của Roos (2004) và Groves (2004) đã xếp một số phân loài trƣớc đây thành các loài riêng biệt và đƣa ra hệ thống phân mới cho Linh trƣởng Việt Nam. Đây là hệ thống phân loại phản ánh đầy đủ phân loại học của thú Linh trƣởng Việt Nam và đƣợc các nhà khoa học đang sử dụng rộng rãi (bảng 1.2 Phân loại khu hệ thú Linh trƣởng Việt Nam Tên loài TT Phổ thông Khoa học 1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis 2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus 3 Khỉ cộc Macaca arctoides 4 Khỉ mốc Macaca assamensis 5 Khỉ đuôi lợn Macaca leonine 6 Khỉ vàng Macaca mulatta 7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis 8 Voọc xám Trachypithecus crepusculus 9 Voọc bạc Trachypithecus obscurus 10 Voọc gec manh Trachypithecus germaini 11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi 12 Voọc đầu trắng Trachypithecus poliocephalus 13 Voọc gáy trắng Trachypithecus hatinhensis 14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus 15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri 16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus 17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes 18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea 19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus 20 Vƣợn đen tuyền Nomascus concolor 21 Vƣợn đen Hải Nam Nomascus nasutus 22 Vƣợn đen má trắng Nomascus leucogenys 23 Vƣợn siki Nomascus siki 24 Vƣợn má hung Nomascus gabriellae (Nguồn: Grove, 2004) 4 Trong các quan điểm phân loại học Geissmann, Nguyễn Xuân Đặng (2000), Phạm Nhật (2002), hay của Roos và Grove (2004) đều cho rằng ở Việt Nam loài Nomascus gabriellae là Vƣợn má hung hay Vƣợn má vàng và chỉ có một loài phân bố chủ yếu ở Phía Nam Việt Nam.

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới đây nhất của Văn Ngọc Thịnh (2010), Roos (2011) đã thống nhất xác định loài Nomascus gabriellae bao gồm hai loài khác nhau là: Vƣợn má vàng phía Bắc (Nomascus annamensis) và Vƣợn má vàng phía Nam (Nomascus gabriellae). Theo đó, ở nƣớc ta hiện nay có 6 loài Vƣợn và đều thuộc về giống Vƣợn mào (Nomascus).2 Trên thế giới Họ Vƣợn - Hylobatidae Họ Vƣợn bao gồm các loài thú cỡ nhỏ và cỡ trung bình (chiều dài cơ thể từ 38-65 cm), không có đuôi, tay dài quá đầu gối. Bộ lông cá thể đực màu đen, cá thể cái có màu vàng tƣơi hoặc vàng nhạt (Nguyễn Xuân Đặng và cộng sự, 2009). Tất cả các loài Vƣợn đều phát ra tiếng hót rất lớn vào buổi sáng sớm.

Tiếng hót của Vƣợn mang đặc trƣng giới (đực và cái). Ở hầu hết các loài, mỗi cặp đực và cái thƣờng phối hợp tiếng hót với nhau. Chức năng chủ yếu của tiếng hót để xác lập vùng lãnh thổ của mình, thu hút bạn tình và duy trì mối quan hệ gia đình (Nguyễn Xuân Đặng và cộng sự, 2009). Các nghiên cứu trƣớc đây về phân loại Vƣợn chia thành hai nhóm: Symphalangus và Hylobates.

Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải phẫu xƣơng sọ và âm thanh đã phân họ Vƣợn thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 ( Geissmann và cộng sự, 2000).3 Một số đặc điểm của giống Nomascus Kích thƣớc cơ thể: những cá thể vƣợn mào hoang dã có trọng lƣợng cơ thể trung bình là 7 - 8 kg, nặng tƣơng đƣơng với trọng lƣợng của giống Bunopithecus (7kg), lớn hơn trọng lƣợng của giống Hylobates (khoảng 5kg) và nhỏ hơn trọng lƣợng của giống Symphalangus (khoảng 11kg) (Geissmann và cộng sự, 2000). Đặc điểm sọ: Trán cao và tròn, các cạnh trên ổ mắt phẳng. Số lƣợng bộ nhiễm sắc thể lƣỡng bội 2n = 52 Đặc điểm hình thái: Túm lông trên đầu dựng đứng, ở con đực phát triển hơn tạo thành một cái mào, những con cái trƣởng thành có đám lông đen trên đầu tƣơng phản với phần lông màu nhạt ở xung quanh.

Có sự lƣỡng sắc giới tính thể hiện rõ ở những cá thể trƣởng thành: con đực thƣờng có màu lông đen (có hoặc không có các mảng lông má màu sáng), cá thể cái có lông màu vàng nhạt hoặc màu vàng da cam hoặc màu be nhạt, thƣờng có mảng lông chấm màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu tối. Những thay đổi về màu sắc của bộ lông trong quá trình phát triển cá thể: con non sinh ra có bộ lông màu đen, gần tƣơng tự nhƣ màu của con đực trƣởng thành. Đến thời gian trƣởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm tuổi), con cái thay đổi màu lông lần thứ hai và có bộ lông màu sáng đặc trƣng của con cái trƣởng thành (Grove, 2001). Các loài trong giống Nomascus: Cũng giống nhƣ theo phân loại học về thú Linh trƣởng, các tác giả khác nhau cũng đƣa ra những quan điểm khác nhau về số lƣợng loài thuộc giống Nomascus.

Theo Geissmann và cộng sự, (2000) bao gồm 5 loài: 1. Vƣợn đen (chƣa định tên) Nomascus. Vƣợn đen tuyền (Nomascus concolor) 3. Vƣợn má trắng siki (N.

gabriellae) 6 Đến năm 2002, Phạm Nhật đã đƣa ra quan điểm tƣơng đối đồng nhất với Geissmann. Số loài thuộc giống Nomascus gồm 5 loài, chỉ khác là Vƣợn đen hải nam (Nomascus concolor ssp) đƣợc thay cho Vƣợn đen (chƣa định tên) và tên khoa học của Vƣợn đen tuyền là (Nomascus concolor concolor) thay cho (Nomascus concolor).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tiếng kêu và phân bố vượn siki tại Quảng Bình" cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm tiếng kêu và sự phân bố của loài vượn siki, một loài động vật quý hiếm đang gặp nhiều nguy cơ. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về tình trạng bảo tồn của loài mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà nghiên cứu và quản lý môi trường trong việc xây dựng các chiến lược bảo tồn hiệu quả.

Để mở rộng thêm kiến thức về các loài động vật và hệ sinh thái, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu công nghệ gis để phân vùng thích nghi và bảo tồn loài vọoc thân đen má trắng ở khu bảo tồn thần sa võ nhai thái nguyên, nơi nghiên cứu về công nghệ GIS trong bảo tồn động vật. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên tác kẻ bản bung na hang tuyên quang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự đa dạng sinh học trong các khu bảo tồn. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tình trạng và phân bố các loài bò sát reptilia tại khu bảo tồn đồng sơn kỳ thượng huyện hoành bồ tỉnh quảng ninh cũng là một nguồn tài liệu quý giá về tình trạng các loài bò sát trong các khu bảo tồn.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến bảo tồn động vật và sinh thái.