ĐẶT VẤN ĐỀ Phân bố khắp Việt Nam, vƣợn đƣợc xem là họ hàng gần nhất của loài ngƣời và cũng là một chỉ số để chúng ta cân nhắc cách chung sống trong sự đa dạng đáng kể của hệ động, thực vật mà trong đó Việt Nam là một địa điểm nổi tiếng về điều này. Việt Nam là một đất nƣớc đã và đang có sự chuyển đổi chóng mặt để phát triển kinh tế do đó các loài vƣợn hiện nay đang phải trải qua một cuộc khủng hoảng. Trong vài thập kỷ qua, hiện tƣợng săn bắn và mất môi trƣờng sống đã làm vƣợn suy giảm nghiêm trọng trên khắp đất nƣớc. Ở những nơi tốt nhất, các quần thể Vƣợn còn lại cũng tồn tại với mật độ thấp hơn đáng kể so với mật độ tự nhiên, còn tại những nơi tồi tệ nhất chúng đang phải đối mặt với sự tuyệt chủng cục bộ.
Khi có sự săn bắt bằng súng tại một khu vực nào đó, vƣợn thƣờng là những loài biến mất đầu tiên mặc dù chúng không hẳn là các mục tiêu chính, tuy nhiên chúng là một phần trong những sản phẩm săn bắn khi các thợ săn có cơ hội chặt các cây là nơi cƣ trú của các loài hoang dã mà họ có thể thấy đƣợc (Rawson và cộng sự. Tốc độ sinh sản chậm ở vƣợn đồng nghĩa với việc các quần thể suy giảm nhanh chóng kể cả khi áp lực săn bắn thấp, nghĩa là các quần thể nếu có thể phục hồi thì cũng chậm chạp. Bởi vậy những gì đang xảy ra với vƣợn lại rất quan trọng đối với sự dồi dào của đa dạng sinh vật tại Việt Nam và ngày càng trở nên quan trọng hơn khi mà môi trƣờng tự nhiên đang phải chịu thêm nhiều áp lực từ các sức ép về phát triển. Hiện nay, tại Việt Nam, các nhà khoa học đã ghi nhận đƣợc sáu loài Vƣợn mào Nomascus.
Sự đa dạng về vƣợn cho thấy sự đa dạng về sinh vật của nói chung của Việt Nam. Tuy nhiên, các quần thể vƣợn ở Việt Nam đang suy giảm và đó cũng là xu hƣớng của các quần thể động vật hoang dã nói chung (Rawson và cộng sự. Theo Rawson (2011), khu phân bố của Vƣợn siki (Nomascus siki), bị cho là đã hạn hẹp hơn rất nhiều. Và không có đủ dữ liệu để đánh giá một cách định lƣợng xu hƣớng của Vƣợn siki tuy nhiên tất cả chỉ số đều cho thấy rằng săn bắn 1 đang là nguy cơ chủ yếu của sự suy giảm liên tục về số lƣợng của loài này ở Việt Nam.
Cho tới nay, giới hạn phân bố về phía Bắc của Vƣợn siki chƣa đƣợc biết rõ, có thể nằm ở gần Khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Khe Nét, tỉnh Quảng Bình và KBTTN Kẻ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh; về phía Nam đến sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị (Rawson và cộng sự. Loài này đƣợc xếp ở mức Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và thuộc nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên Khe Nƣớc Trong nằm ở miền Trung Việt Nam chứa một khu hệ động vật đa dạng, phong phú. Khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Khe Nƣớc Trong nằm ở huyện Lệ Thủy, phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình, giáp với biên giới Việt Nam - Lào và KBTTN Bắc Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
Khu vực này có diện tích 19.188 ha, bao gồm chủ yếu là rừng nhiệt đới thƣờng xanh nằm trong vùng sinh thái đất thấp miền Trung rộng lớn (khoảng 500.000 ha) kéo dài dọc biên giới Việt - Lào từ huyện Minh Hóa nối liền với các huyện Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình sang huyện Hƣớng Hóa tỉnh Quảng Trị. Đây là khu vực có diện tích rừng tự nhiên trên đất thấp liên tục lớn nhất ở Việt Nam. Đặc biệt hơn, Khu đề xuất BTTN Khe Nƣớc Trong còn bảo tồn đƣợc một diện tích lớn kiểu rừng nhiệt đới ẩm thƣờng xanh nguyên sinh trên vùng đất thấp. Sự hiện diện của Vƣợn siki trong khu vực đã đƣợc ghi nhận trong nhiều năm gần đây.
Để hiểu rõ hơn về tập tính, đặc điểm tiếng kêu, vùng phân bố của các quần thể Nomascus siki nói chung ở Việt Nam và đặc biệt ở khu đề xuất bảo tồn Khe Nƣớc Trong tại Quảng Bình từ đó cung cấp những dẫn liệu khoa học góp phần vào việc bảo tồn loài linh trƣởng quý giá này, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu và phân bố của loài Vượn siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại khu đề xuất bảo tồn Khe Nước Trong, Quảng Bình” 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại học thú linh trưởng Việt Nam Cũng giống nhƣ hệ thống phân loại Linh trƣởng trên thế giới, phân loại linh trƣởng ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.1 Tổng kết phân loại thú Linh trƣởng ở Việt Nam theo thời gian Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn thông tin 2001 3 24 Groves (2001) 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2003 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) Mặc dù có sự khác nhau về quan điểm, các tác giả đều cơ bản thống nhất rằng Linh trƣởng Việt Nam có 3 họ chính: họ Cu li (Loridae), họ khỉ (Cercopithecidae) và họ Vƣợn (Hylobatidae); số loài và phân loài dao động từ 24 đến 25. Trong hệ thống phân loại của Roos (2004) và Groves (2004) đã xếp một số phân loài trƣớc đây thành các loài riêng biệt và đƣa ra hệ thống phân mới cho Linh trƣởng Việt Nam. Đây là hệ thống phân loại phản ánh đầy đủ phân loại học của thú Linh trƣởng Việt Nam và đƣợc các nhà khoa học đang sử dụng rộng rãi (bảng 1.2 Phân loại khu hệ thú Linh trƣởng Việt Nam Tên loài TT Phổ thông Khoa học 1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis 2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus 3 Khỉ cộc Macaca arctoides 4 Khỉ mốc Macaca assamensis 5 Khỉ đuôi lợn Macaca leonine 6 Khỉ vàng Macaca mulatta 7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis 8 Voọc xám Trachypithecus crepusculus 9 Voọc bạc Trachypithecus obscurus 10 Voọc gec manh Trachypithecus germaini 11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi 12 Voọc đầu trắng Trachypithecus poliocephalus 13 Voọc gáy trắng Trachypithecus hatinhensis 14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus 15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri 16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus 17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes 18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea 19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus 20 Vƣợn đen tuyền Nomascus concolor 21 Vƣợn đen Hải Nam Nomascus nasutus 22 Vƣợn đen má trắng Nomascus leucogenys 23 Vƣợn siki Nomascus siki 24 Vƣợn má hung Nomascus gabriellae (Nguồn: Grove, 2004) 4 Trong các quan điểm phân loại học Geissmann, Nguyễn Xuân Đặng (2000), Phạm Nhật (2002), hay của Roos và Grove (2004) đều cho rằng ở Việt Nam loài Nomascus gabriellae là Vƣợn má hung hay Vƣợn má vàng và chỉ có một loài phân bố chủ yếu ở Phía Nam Việt Nam.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới đây nhất của Văn Ngọc Thịnh (2010), Roos (2011) đã thống nhất xác định loài Nomascus gabriellae bao gồm hai loài khác nhau là: Vƣợn má vàng phía Bắc (Nomascus annamensis) và Vƣợn má vàng phía Nam (Nomascus gabriellae). Theo đó, ở nƣớc ta hiện nay có 6 loài Vƣợn và đều thuộc về giống Vƣợn mào (Nomascus).2 Trên thế giới Họ Vƣợn - Hylobatidae Họ Vƣợn bao gồm các loài thú cỡ nhỏ và cỡ trung bình (chiều dài cơ thể từ 38-65 cm), không có đuôi, tay dài quá đầu gối. Bộ lông cá thể đực màu đen, cá thể cái có màu vàng tƣơi hoặc vàng nhạt (Nguyễn Xuân Đặng và cộng sự, 2009). Tất cả các loài Vƣợn đều phát ra tiếng hót rất lớn vào buổi sáng sớm.
Tiếng hót của Vƣợn mang đặc trƣng giới (đực và cái). Ở hầu hết các loài, mỗi cặp đực và cái thƣờng phối hợp tiếng hót với nhau. Chức năng chủ yếu của tiếng hót để xác lập vùng lãnh thổ của mình, thu hút bạn tình và duy trì mối quan hệ gia đình (Nguyễn Xuân Đặng và cộng sự, 2009). Các nghiên cứu trƣớc đây về phân loại Vƣợn chia thành hai nhóm: Symphalangus và Hylobates.
Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải phẫu xƣơng sọ và âm thanh đã phân họ Vƣợn thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 ( Geissmann và cộng sự, 2000).3 Một số đặc điểm của giống Nomascus Kích thƣớc cơ thể: những cá thể vƣợn mào hoang dã có trọng lƣợng cơ thể trung bình là 7 - 8 kg, nặng tƣơng đƣơng với trọng lƣợng của giống Bunopithecus (7kg), lớn hơn trọng lƣợng của giống Hylobates (khoảng 5kg) và nhỏ hơn trọng lƣợng của giống Symphalangus (khoảng 11kg) (Geissmann và cộng sự, 2000). Đặc điểm sọ: Trán cao và tròn, các cạnh trên ổ mắt phẳng. Số lƣợng bộ nhiễm sắc thể lƣỡng bội 2n = 52 Đặc điểm hình thái: Túm lông trên đầu dựng đứng, ở con đực phát triển hơn tạo thành một cái mào, những con cái trƣởng thành có đám lông đen trên đầu tƣơng phản với phần lông màu nhạt ở xung quanh.
Có sự lƣỡng sắc giới tính thể hiện rõ ở những cá thể trƣởng thành: con đực thƣờng có màu lông đen (có hoặc không có các mảng lông má màu sáng), cá thể cái có lông màu vàng nhạt hoặc màu vàng da cam hoặc màu be nhạt, thƣờng có mảng lông chấm màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu tối. Những thay đổi về màu sắc của bộ lông trong quá trình phát triển cá thể: con non sinh ra có bộ lông màu đen, gần tƣơng tự nhƣ màu của con đực trƣởng thành. Đến thời gian trƣởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm tuổi), con cái thay đổi màu lông lần thứ hai và có bộ lông màu sáng đặc trƣng của con cái trƣởng thành (Grove, 2001). Các loài trong giống Nomascus: Cũng giống nhƣ theo phân loại học về thú Linh trƣởng, các tác giả khác nhau cũng đƣa ra những quan điểm khác nhau về số lƣợng loài thuộc giống Nomascus.
Theo Geissmann và cộng sự, (2000) bao gồm 5 loài: 1. Vƣợn đen (chƣa định tên) Nomascus. Vƣợn đen tuyền (Nomascus concolor) 3. Vƣợn má trắng siki (N.
gabriellae) 6 Đến năm 2002, Phạm Nhật đã đƣa ra quan điểm tƣơng đối đồng nhất với Geissmann. Số loài thuộc giống Nomascus gồm 5 loài, chỉ khác là Vƣợn đen hải nam (Nomascus concolor ssp) đƣợc thay cho Vƣợn đen (chƣa định tên) và tên khoa học của Vƣợn đen tuyền là (Nomascus concolor concolor) thay cho (Nomascus concolor).