Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, trước xu thế ngày càng giảm về số lượng của các loài động, thực vật quý hiếm. Các quốc gia và các tổ chức phi chính phủ đã và đang rất nỗ lực hành động để bảo tồn các nguồn gen quý hiếm của trái đất. Hiện ở Việt Nam có khoảng 100 cá thể Voọc thân đen má trắng, trong đó theo báo cáo của FFI thì hiện tại có khoảng 12 cá thể Voọc thần đen má trắng còn tồn tại trong khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Võ Nhai. Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi (Pousargues, 1898) là loài linh trưởng quý hiếm, chỉ phân bố ở Trung Quốc và Việt Nam.
Tại Việt Nam, loài này phân bố hẹp trong vùng Đông Bắc. Theo Sách Đỏ Thế giới (IUCN, 2010) xếp loài ở cấp đe dọa VU còn Sách Đỏ Việt Nam 2014 xếp loài ở cấp EN. GIS là một công cụ đắc lực cho việc bảo vệ tài nguyên môi trường và đa dạng sinh học. Ứng dụng GIS để thành lập bản đồ phân vùng thích nghi cho loài Vooc thân đen má trắng ở khu bảo tồn Thần Sa Võ Nhai là cơ sở để đưa ra các biện pháp để bảo tồn loài Vooc trên.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó, được sự nhất trí của nhà trường, khoa Tài Nguyên & Môi Trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Ths. Ngô Thị Hồng Gấm và các thầy cô giáo trong khoa, tôi tiến hành hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu công nghệ GIS để phân vùng thích nghi và bảo tồn loài Vọoc thân đen má trắng ở khu bảo tồn Thần Sa - Võ Nhai - Thái Nguyên". Mục tiêu của đề tài - Xác định được những sinh cảnh sống chính của Voọc thân đen má trắng tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Võ Nhai bằng công nghệ GIS.
e 2 - Đánh giá được tình trạng quần thể và những mối đe dọa đến sự tồn tại của loài này. - Đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn loài Vọoc quý hiếm này. Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa học tập Tạo cơ hội cho sinh viên nâng cao kiến thức, kinh nghiệm thực tế phục vụ cho học tập công tác sau này; vận dụng lý thuyết vào thực tiễn; rèn luyện kỹ năng sử dụng và tích hợp các phần mềm tin học ứng dụng.Ý nghĩa trong bảo vệ đa dạng sinh học Giúp cho các cấp các ngành cũng như người dân địa phương nắm được hiện trạng của loài Vọoc đang bị suy giảm đến mức độ như thế nào và đưa ra các biện pháp bảo tồn loài động vật này.Ý nghĩa thực tiễn - Xác định hiện trạng - Đánh giá công tác quản lý - Ứng dụng tin học trong công tác quản lý cơ sở dữ liệu hiện trạng loài Vọoc giúp cho việc việc quản lý và truy vấn dữ liệu về loại động vật này nhanh và chính xác hơn. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Voọc thân đen má trắng và những thông tin liên quan đến chúng - Voọc thân đen má trắng (Trachypithecus francoisi francoisi (De Pousargues, 1898) - Semnopithecus francoisi Pousargues, 1898 - Họ: Khỉ Cercopithecidae - Bộ: Linh trưởng Primates + Đặc điểm nhận dạng Bộ lông dày, màu đen tuyền. Hai má trắng, đám lông trắng rộng vượt quá chỏm vành tai. Đầu thường có mào lông đen.
Đuôi dài hơn thân, mầu đen. + Sinh học - Sinh thái Voọc đen má trắng chủ yếu sống ở rừng trên núi đá vôi và kiếm ăn trong các dải rừng kín thường xanh tiếp giáp với rừng núi đá vôi gân vung sống của chúng. Voọc đen má trắng sống đàn. Trước đây, đàn voọc thường rất đông, 20 - 30 con (Lê Hiền Hào, 1973), nhưng hiện nay phổ biến tư 5 đến 15 con (Phạm Nhật, 2000).
Hoạt động kiếm ăn của Voọc đen má trắng diễn ra ngày hai buổi sáng và chiều, trưa nghỉ. Cường độ kiếm ăn của voọc má trắng diễn ra mạnh vào hai thời điểm, đầu buổi sáng đến khoảng 10 giờ và từ 14 giờ đến 16 giờ 30 phút. Thời gian hoạt động trong ngày có khác nhau. Mùa nóng Voọc rời chỗ ngủ sớm, về hang muộn va thời gian nghỉ trưa khá dài.
Về mùa lạnh, chúng đi kiếm ăn muộn và về hang ngủ sớm. Voọc đen má trắng ăn lá chồi non và quả cây rừng không ăn động vật. Bước đầu đã ghi nhận được 44 loài thuộc 22 Họ: thực vật được Voọc đen má trắng sử dụng làm thức ăn (Pham Nhật, 2000). Họ: có nhiều loài thực vật được Voọc đen má trắng thích e 4 ăn nhất là cây Họ: Dâu tằm (Moraceae), Ba mảnh vỏ (Ephorbiaceae), Cau dừa (Arecaceae).
Các số liệu nghiên cứu cho thấy tuy Voọc đen má trắng ăn nhiều loại hoa quả nhưng trong khẩu phần thức ăn thì khối lượng lá , đặc biệt là cuộng chiếm tỷ lệ nhiều hơn các loại thức ăn quả và thân. Voọc đen má trắng chủ yếu ngủ hang. Mùa nóng, chúng ngủ trên những tảng đá hoặc cây gỗ trước cửa hang, mùa lạnh ngủ trong hang. Hang ngủ của Voọc thường tìm thấy ở những nơi vách đá dựng đứng.
Dẫn liệu sinh sản của Voọc đen má trắng còn thiếu. Quan sát thực địa thường gặp con mẹ mang con non ở các tháng khác nhau của năm, nhưng tập chung từ tháng 3 đến tháng 7. Mỗi lứa đẻ một con, con non mới đẻ có Bộ lông màu vàng. + Phân bố: Trong nước: Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên.
Thế giới: Trung Quốc (Quảng Tây). + Giá trị: Voọc đen má trắng là loài Linh trưởng quý hiếm và có giá trị dược liệu. + Tình trạng: Chưa có công trình nào nghiên cứu về số lượng quần thể Voọc đen má trắng. Lê Hiền Hào (1973) cho biết loài này trước kia gặp phổ biến ở một số vùng như Cai Kinh (Lạng Sơn), Ba Bể (Bắc Kạn).
Thông tin thu được qua các đợt khảo sát thực địa trong những năn gần đây ở Na Hang (Tuyên Quang), Ba Bể và Nà Rì (Bắc Kạn), Phong Quang (Hà Giang), Hữu Liên (Lạng Sơn) cho thấy Voọc đen má trắng là loài hiếm. Nguyên nhân chủ yếu gây sự suy giảm số lượng Voọc đen má trắng là do diện tích nơi sống của chúng – rừng tự nhiên trên núi đá vôi bị thu hẹp và do áp lực săn bắt. + Phân Hạng: EN A1c,d C2a + Biện pháp bảo vệ: e 5 IUCN (2000) xếp loài này vào nhóm sẽ nguy cấp (VU). Hội nghị Linh trưởng tháng 10/1998 ở Hà Nội và danh lục đỏ xếp Voọc má trắng vào nhóm nguy cấp (EN).
Phụ lục II CITES. Quyết định 194-CT (1986) về Quy định các khu rừng cấm; Luật bảo vệ và phát triển rừng (1991), nhóm IB trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Đã được bảo vệ ở Vườn quốc gia Ba Bể, Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Khu bảo tồn thiên nhiên Na Rì, Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang, Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên. Đây là những khu bảo vệ còn đủ các điều kiện sinh thái cần thiết cho loài này và biện pháp bảo vệ nội vi vẫn được coi là tốt nhất.
Cần tăng cường công tác quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên nêu trên. Khái niệm về đa dạng sinh học và bảo tồn loài có sự tham gia của cộng đồng + Khái niệm về đa dạng sinh học: Đa dạng sinh học là thuật ngữ thể hiện tính đa dạng của các thể sống, loài và quần thể, tính biến động di truyền giữa chúng và tất cả sự tập hợp phức tạp của chúng thành các quần xã và hệ sinh thái. Đa dạng sinh học được thể hiện ở ba cấp độ: đa dạng di truyền, đa dạng về loài và đa dạng về hệ sinh thái. [1] Đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ: + Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm.
+ Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. + Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau. e 6 + Khái niệm bảo tồn Bảo tồn là sự quản lý, sử dụng của con người về sinh quyển nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai [4] Khái niệm Bảo tồn sinh học (Biological Conservation) là biện pháp đặc biệt để duy trì và bảo vệ động thực vật quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng. Hiện có hai phương pháp bảo tồn sinh học đang được sử dụng là: - Bảo tồn nguyên vị (in-situ conservation) là khoanh vùng bảo tồn động, thực vật tại nơi gốc mà chúng sống.
Đây được coi là phương pháp ưu tiên và tốt nhất để bảo tồn động thực vật quý hiếm. Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Tuỳ theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp.
Theo Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế thì có 6 loại khu bảo tồn: Loại I: Khu bảo tồn nghiêm ngặt (hay khu bảo tồn hoang dã), Loại II : Vườn quốc gia, chủ yếu để bảo tồn các hệ sinh thái và sử dụng vào việc du lịch, giải trí , giáo dục; Loại III: Công trình thiên nhiên, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đặc biệt; Loại IV: Khu bảo tồn sinh cảnh hay các loài, chủ yếu là nơi bảo tồn một số sinh cảnh hay các loài đặc biệt cần bảo vệ; Loại V: Khu bảo tồn cảnh quan đất liền hay cảnh quan biển, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đẹp, sử dụng cho giải trí và du lịch; Loại VI: Khu bảo tồn quản lý tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu quản lý với mục đích sử dụng một cách bền vững các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên .