Đặt vấn đề Cây bàng còn được gọi là quang lang - một loại cây thân gỗ được trồng nhiều ở các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như một loại cây cảnh trồng dé lay bóng ram do tan lá lớn va rộng. Quả ăn được và có vi hơi chua. Hat bàng được chế biến thành hat bàng rang (có thể phối trộn thêm gia vi), một loại đặc sản ở Côn Dao, Việt Nam. Trong công nghiệp, vỏ quả và vỏ thân bàng dùng để làm thuộc da [2].
Tuy nhiên, hăng năm, ở Việt Nam một lượng lớn quả bàng bị thải bỏ, không đem lại giá trị kinh tế và ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường. Trên thé giới đã có nhiều công trình nghiên cứu cho thay nhân hạt bàng và dau hạt bàng chứa một lượng lớn chất béo có giá trị sinh học cao do chứa nhiều acid béo không no có lợi cho sức khỏe của con người [3], [4], [5], [6]. Chất béo thực vật được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm. Chính vì vậy, việc tận thu nguồn chất béo từ hạt bàng không những dem lại lợi ích kinh tế, nâng cao giá trị thương phẩm cho loại hạt này mà còn giải quyết được van dé cảnh quan, môi trường.
Quá trình thủy phân dầu mỡ truyền thống được thực hiện bằng phương pháp hóa hoc, sử dụng xúc tác kiểm dưới điều kiện nhiệt độ và áp suất cao (250°C, 50+70bar) dé sản xuất xà phòng [9], [10] tốn nhiều chi phí năng lượng, nguy co gây nguy hiểm. Bên cạnh đó, các phản ứng không mong muốn như oxy hóa acid béo tự do hoặc phản ứng khử nước liên kết trong chất béo có thể xảy ra trong quá trình thủy phân dầu mỡ bằng phương pháp hóa học [1]. Dé khắc phục nhược điểm trên, các công trình nghiên cứu ngày nay chủ yếu sử dụng phương pháp hóa sinh và sinh học dé thủy phân dầu mỡ nhằm mục đích bảo vệ môi trường, tiết kiệm chi phí năng lượng, đảm bảo an toàn sức khỏe cho con người, giảm chi phí sản xuất. Những công trình nghiên cứu gần đây cho thấy dầu hạt bàng chủ yếu được sử dụng để làm diesel sinh học [11-13], chưa có nghiên cứu thủy phân dầu hạt bàng bằng enzyme để thu acid béo, cung cấp nguyên liệu cho ngành dược, thực phẩm và mỹ phẩm.
Trước thực trạng đó, việc triển khai đề tài “Nghiên cứu thủy phân dầu nhân hạt bàng bằng enzyme lipase từ Mucor javanicus” là điều cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu Tối ưu hóa điều kiện thủy phân dầu nhân hạt bàng để thu được hàm lượng acid béo nhiều nhất hay hiệu suất thủy phân dầu nhân hạt bàng đạt cao nhất. Đối tượng nghiên cứu Dâu nhân hạt bang được thu nhận băng phương pháp ép lạnh đã qua xử lý và có bố sung chat bảo quản. Enzyme Amano lipase M từ Mucor javanicus sử dung cho nghiên cứu là sản phẩm của hãng Sigma-Aldrich (Nagoya, Nhật Bản) được mua tại công ty TNHH Thiết bị khoa học sinh hóa VINA, thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu này được thực hiện ở quy mồ phòng thí nghiệm. Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu này tập trung vào các nội dung sau: — Tổng quan tài liệu về nguyên liệu dầu nhân hạt bàng, enzyme dùng trong việc thủy phân. Phân tích một số thành phân cơ bản của dầu nhân hạt bàng. Khảo sát các yếu tô ảnh hưởng đến hiệu suất thủy phân dâu nhân hạt bàng.
— Tối ưu hóa quá trình thủy phân dầu nhân hạt bàng bằng chế phẩm enzyme lipase từ Mucor javanicus. Phân tích thành phan acid béo thô thu được trong quá trình nghiên cứu. Ứng dụng Trong nghiên cứu nay đã tối ưu hóa được điều kiện phù hợp cho phản ứng thủy phân dau nhân hạt bàng băng chế phẩm enzyme lipase từ Mucor javanicus dé bước đầu thủy phân dau nhân hat bàng nhăm thu được acid béo va glycerol, cung cấp nguyên liệu cho ngành dược và mỹ phẩm. Hat bàng Cay bàng có tên khoa học là Terminalia catappa L.
[15], [16], [17] thuộc: Gidi: Plantae Nganh: Angiospermatophyta Lop: Dicot Phan lớp: Rosidae Bo: Myrtales 2193) BT Họ: Combretaceae Hình 1. Lá, hoa và quả bàng Chi: Terminalia (Nguồn: internet) Loai: Terminalia catappa L. Bang là một cây nhiệt đới, có nguồn gốc ở vùng Nam A, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á (Ấn Độ, Malaysia, Philippin, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan,.), châu Phi và châu Mỹ. Ở Việt Nam, cây bàng phân bố tự nhiên ở vùng ven biển từ Quảng Ninh tới Vũng Tau, các đảo ở Vịnh Bac Bộ và Dong bằng sông Cửu Long.
Mùa qua bàng vào khoảng tháng 6+7, quả hạch, hình trứng dẹp, đầu múp nhọn, hai mép mỏng và khi chín có màu vàng. Thanh phan hóa học của hạt bàng [2, 5-8, 18] Hàm lượng (% khối lượng chất khô) Matos và | Monnet va | Siew và | Udebunu_ | Ladele và cộng Thanh l cộng sự | cộng sự | cộng sự | (2015) su (2016) phan (2009) (2012) (2015) Congo Bờ biển Ngà | Malaysia Nigeria Bennin Am 4. giới thiệu thành phần hóa hoc của hạt bàng, cho thay trong hạt bang chứa một nguồn chất béo tiềm năng déi dào khi so sánh với nguồn thực vật khác như hạt hướng dương (32%), hạt cọ dầu (36%), đậu phộng (42%) [19]. Bên cạnh đó, hàm lượng chất béo có trong hạt bàng cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia trên thế giới và được thé hiện qua bảng 1.
theo kết quả phân tích của nhiều nhóm tác giả. Sự khác biệt giữa các nghiên cứu có thé là do giống (yếu tố di truyện), vị trí địa lý, khí hau, giai đoạn trưởng thành, thời điểm thu hoạch. So sánh hàm lượng chất béo có trong hạt bàng ở một số quốc gia [2, 3, 5, 6, 11-13] Hàm lượng chat béo trong hat (%, w/w) Abdullahi | D. Bich | Santos va | Matos vài Monnet và Dat va Orhevba Chỉ tiêu và Anelli | và cộng sự | cộng sự cộng sự cộng sự cộng sự và cộng (1980) (2006) (2008) (2009) (2012) (2013) | su (2016) Nguôn gôc| Somali Việt Nam Brazil Congo | Bờ biến Nga | Cân Thơ | Nigeria Kết quả 45 52.33 Trong thành phan hóa học của hạt bàng (bảng 1.), protein là thành phan có hàm lượng cao trong hạt sau chất béo.
Hàm lượng acid amin của hạt cho thấy acid glutamic (5.69 g/100g) là acid amin thiết yếu có hàm lượng cao nhất trong hạt bang, sau đó là arginine (3.95 g/100g), trong khi hàm lượng histidine, methionine, tyrosine và lysine rất nhỏ (Bảng 1. Tuy nhiên, Hàm lượng lysine cao ảnh hưởng tiêu cực đến sự hấp thu arginine trong cơ thé [20] nên mức lysine thấp trong hat bàng có thé là một lợi thế. Hàm lượng arginine cao của hạt bàng cho thấy hạt bàng có thể dùng làm thức ăn và có tiềm năng cho lợi ích sức khoẻ. Arginine là tiền thân của oxit nitric (NO) có nhiều hoạt tính sinh học bao gồm chống oxy hóa và chống tiêu cau có liên quan đến nguy cơ tim mạch [20, 21].
Đặc biệt, trong thành phần amino acid của hạt bàng không chứa asparagine — một loại amino acid tự do thường gap trong hạt hạnh nhân sống (P. amygdalus) và có liên quan đến hàm lượng acrylamide trong hạt hạnh nhân nướng rang. Acrylamide là một chất gây ung thư [22]. Thanh phan Amino acid trong hạt Terminalia catappa [7] STT Amino acid Tên viết tat | Ham lượng (g/100g protein) 1 Aspartic acid ASX 2.48 2 Glutamic acid Glx 5.18 4 Glycine acid Gly 1.07 II Valine Val 1.09 Ngoài ra, trong hat bàng còn chứa một lượng đáng kề các thành phan khoáng quan trọng (bảng 1.
Hàm lượng Canxi (827.32 mg/100g) va Natri (27. Canxi và Magie đóng vai tro quan trọng trong quang hợp, chuyển hóa carbohydrate, acid nucleic và các chất gắn kết của các thành tế bào [23]. Ngoài ra, canxi và magie còn là những khoáng chất thiết yếu cho hoạt động của nhiều enzyme trong cơ thê. Thanh phan khoáng của hat bang[5] STT | Nguyên tổ khoáng | Hàm lượng (mg/100g) 1 Ca 827.42 Hat bàng chứa nhiều chat béo, protein và khoáng chat có lợi cho sức khỏe con người và cũng là một trong những loại hạt có dầu có thể sử dụng thay thế cho một số loại hạt có dầu thông thường như dầu cọ, dầu lạc và dầu đậu nành [9].
Dâu nhân hat bàng 1. Thành phan hóa học Theo nghiên cứu của S. Sotheeswaran và cộng sự (1994) chất béo chiếm 21% khối lượng hạt trong đó thành phần phytosterols chiếm 0.32% khối lượng chất béo và diacylglycerol chiếm 11% khối lượng chất béo, còn lại là triacylglycerol [24]. Thanh phan acid béo của dau hat bàng chủ yếu là acid oleic, linoleic và palmitic (bảng 1.
Tùy thuộc vào điều kiện nghiên cứu mà thành phan acid oleic, linoleic hay acid palmitic sẽ chiếm ưu thế khác nhau. Trong nghiên cứu của Monnet và cộng sự (2012) cho thấy acid palmitic (37.26%) là acid béo chiếm nhiều nhất trong thành phần acid béo của dau hat bàng, tiếp theo là acid oleic (32.65%), và lượng nho cac acid nhu: acid stearic (5. Tương tự, trong các nghiên cứu của Abdullahi va Anelli (1980); Đỗ Huy Bích và cộng sự (2006); Santos va cộng sự (2008); Matos và cộng sự (2009); Dat và cộng sự (2013) cũng chứng mình thành phan acid béo chủ yếu trong dâu hạt bàng là acid palmitic. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Siew và cộng sự (2015) chỉ ra rằng thành phân aicd béo chiếm nhiều nhất trong dầu hạt bàng là acid oleic (39.28%), bên cạnh đó, cũng có nghiên cứu chỉ ra rang acid linoleic mới là acid béo không bão hòa chủ yếu trong dau hạt bàng [3.
Hàm lượng acid linoleic cao trong dau rất có ý nghĩa vi acid linoleic là một trong những acid béo không bão hoà quan trọng nhất trong thực phẩm của con người do khả năng ngăn ngừa bệnh tim mạch [26, 27]. Thành phan acid béo trong dau nhân hạt bàng [2, 3, 5-7, 11, 13] Hàm lượng (%) Abdullahi | D.Bich | Santos và | Matos và | Monnet Dat và | Siew va Acid béo va Anelli | va cộng | cộng cộng sự |và cộng | cộng su | cộng sự (1980) sự (2006) | (2008) (2009) sự (2012) | (2013) | (2015) Octanoic - - „ - - - - Vệt (C8:0) Decanoic - - , - - - - Vet (C10:0) Lauric - , - , - - - Vet Vet (C12:0) Myristic - 1.19 (C22:0) Cis-13- - - docosenic - - - - Vét (C22:1) Tetracosanic - - (C24:0) * Giá trị thấp hơn 0.0001% Tỉ lệ giữa acid béo không bão hòa và acid béo bão hòa (ti lệ UFA/SFA) trong thành phan chất béo của dau càng cao thì dầu càng có giá trị dinh dưỡng, tỉ lệ này trong dau hạt bang (dầu T.51 cao hon so với dầu dừa (0.0), dau hạt co (0.2) và dầu hạt mỡ (1.