MỞ ĐẦU Ăn uống là một nhu cầu quan trọng của con người mỗi ngày. Các nguồn thực phẩm có nguồn gốc tự nhiên, cung cấp các chất dinh dưỡng cũng như hoạt tính chống oxy hóa ngày cảng được con người tìm và sử dụng. Chất chống oxy hóa rất cần thiết cho cơ thé vì nó giúp cơ thé chỗng lại các gốc tự do gây hại cho các tế bào. Trong do, thực vat là nguồn chứa chất chồng oxy hóa tiềm năng [1].
Theo truyền thống, chùm ruột được sử dụng ở Ấn Độ để điều trị một số bệnh như tăng huyết áp, tiểu đường, đau thân kinh tọa, thấp khớp [3]. Ngày nay, có rất nhiều nghiên cứu về công dụng của cây chùm ruột trên lá, rễ và trái [4], [5]. Trái chùm ruột là nguồn cung cấp vitamin C và khoáng chất can thiết cho cơ thé [7]. Ngoài ra, trái chùm ruột còn chứa hàm lượng phenolic khá cao và một số hợp chat phenolic có hoạt tính chống oxy hóa [8].
Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh hoạt chất chống oxy hóa trong trái chùm ruột có tác dụng đến gan [9]. Nước ép chùm ruột có tác dụng trong việc điều trị xơ nang phổi [5]. Tuy nhiên, có rat ít công bồ về việc thu nhận dịch trái chùm ruột giàu các hợp chất chống oxy hóa. Trong quá trình sản xuất dịch quả, việc sử dụng enzyme là không thể thiếu để nâng cao hiệu suất và chất lượng của dịch quả [10].
Enzyme pectinase là một enzyme quan trong được sử dụng trong ngành công nghiệp chế biến rau quả [11]. Việc xử lý nguyên liệu bằng chế phẩm enzyme pectinase giúp dịch trích thoát ra dễ dàng hơn từ phân thịt quả làm tăng sản lượng nước ép [12]. Xử lý dịch quả bằng chế phẩm enzyme còn giúp tăng chất lượng dịch ép. Nhiều nghiên cứu cho thấy xử lý enzyme giúp làm tăng hop chat phenolic và vitamin C trong dich quả [13], [14].
Ngoài ra, xử ly dich quả bang enzyme còn hỗ trợ cho việc làm trong dich quả, giảm độ nhớt, nâng cao vận tốc quá trình ép và giảm thiểu bã thải [15]. Cho đến thời điểm này, vẫn chưa có công bố nào nghiên cứu về xử lý enzyme trên dịch trái chùm ruột đề thu nhận dịch chùm ruột giàu chất chồng oxy hóa. Vì vậy, chúng tôi để xuất sử dụng enzyme trong quá trình thu nhận dịch chùm ruột để làm tăng hoạt tính chong oxy hóa của dịch quả, góp phan làm đa dạng hóa dòng sản phẩm từ thực vật giàu chất chong oxy hóa.1 Trai chùm ruột 2.1 Nguồn gốc Chùm ruột có tên gọi khác là Tầm ruột hay Tum ruột. Chùm ruột có tên khoa học là Phyllanthus acidus (L.)Skeels, còn được gọi là Euphorbiaceae (L.
Chùm ruột là một trong số ít loại cây có trái ăn được trong họ Euphorbiaceae [ L7]. Chùm ruột còn có các tên đồng nghĩa: Averrhoa acida L. basionym, Cicca acida (L.) Merr, Cicca acidissima Blanco, Cicca disticha L, Cicca nodiflora Lam, Cicca racemosa Lour, Diasperus acidissimus (Blanco) Kuntze, Phyllanthus cicca Mil. Arg, Phyllanthus cicca var.
Arg, Phyllanthus cochinchinensis (Lour) Mill. Arg, Phyllanthus distichus (L.) Merr, Phyllanthus distichus .fnodi florus (Lam. Arg, Phyllanthus longifolius Jacq, Tricarium cochinchinense Lour. Ngoài ra chùm ruột còn có tên tiếng Anh là: Country Gooseberry, Indian Gooseberry, Malay Gooseberry, Otaheite Gooseberry, Star Gooseberry, Tahitian Gooseberry, West Indian Gooseberry [16].
Theo hệ thống APG (Angiosperm Phylogeny Group) III-2009, chùm ruột có phân loại khoa học như sau [3| GIỚI: Plantae Ngành: Menoliophyta Lop: Menoliopsida Bo: Melgiphiales Ho: Phyllanthaceae Tong: Phyllanthaceae Phân tong: Flueggeinae Chi: Phyllanthus Loài: Phyllanthus acidus Chùm ruột có nguồn sốc từ Madagascar và được đưa tới Đông Ấn [18]. Từ thời tiền sử, chùm ruột được trồng khắp các đảo ở Philippines nhưng không rộng rãi. Ngày nay, chùm ruột thường được trông ở Indonesia, Việt Nam, Lào, miên bac Malaysia, Ấn Độ, Hawaii và một số đảo khác ở Thái Bình Dương. Ngoài ra, cây chùm ruột còn được trồng ở miền nam Mexico, Trung Mỹ, Colombia, Venezuela, Surinam, Peru và Brazil [3].
Trai chùm ruột (Hình 2.1) có hình tròn, chia thành 6- 8 múi, có đường kính 1- 2,5cm. Trái mọc từng chùm theo các cành non, cành già hay ngay trên thân. Trái chùm ruột có vỏ từ màu xanh non đên vàng nhạt và gân như trăng khi chín [3].2 Tiềm năng của trái chùm ruột Ở Việt Nam, chùm ruột được trồng chủ yếu ở miền Nam. Cây chùm ruột thích hợp với khí hậu nóng và hầu như có mặt khắp nơi vùng đồng bằng sông Cửu Long [19].
Ngoài ra, chùm ruột còn được trông ở Tây Nguyên. Chùm ruột dễ ra hoa, đậu quả, thích hợp trồng ở nhiều vùng đất, chống chịu sâu bệnh tốt. Sau 2 năm, cây có thé cho hoa, kết qua. Năng suất của cây từ 30-35 tắn/năm.
Chùm ruột cho hiệu quả kinh tế cao, doanh thu đạt 250-300 triệu/ ha [20]. Có hai loại chùm ruột là chùm ruột chua và chùm ruột ngọt (chùm ruột ít chua). Trái ngọt thường dùng ăn sống, còn trái chua thường dùng làm gia vị. Trái chùm ruột được sử dụng dé nau canh chua, làm gỏi.
Lá non dùng gói nem chua. Chùm ruột chủ yếu được dùng để làm mứt hay ngâm rượu. Thành phan hóa hoc của trái chùm ruột Thành phân hóa học của thực vật không giống nhau mà phụ thuộc vào giống, điều kiện canh tác, khí hậu, tho nhưỡng, độ già non của chúng [15]. Đã có nhiều công bố về hàm lượng các chất hóa học của trái chùm ruột, với những kết quả khác nhau.1 mô tả về thành phần hóa học của trái chùm ruột.1 Thành phần hóa học trong 100g nguyên liệu trái chùm ruột Thành phần Hàm lượng Tài liệu tham khảo Độ am (g) 86,7 — 91,9 [7], [3], [16] Nang luong (kcal) 28-37 [16].[15] Protein (g) 0,155 — 0,7 [3], [7], [16] Carbohydrate (g) 4,81-— 6,4 [7], [16] Lipid (g) 0,52 [3] Chat xo (g) 0,6 — 0,8 [3], [16] Chat khoang (g) 0,51 [3] Photpho (mg) 17,9 -23 [3], [16] Natri (mg) 17,55 [7Ì Kali (mg) 223,44 [7Ì Canxi (mg) 5 — 163,22 [16], [3], [7] Sat (mg) 0,4 -3,25 [3], [7], [16] Đồng (mg) 0,2 [7] Mangan (mg) 1,31 [7Ì Kém (mg) 1,63 [7] Phenolic (g) 0,6 [7Ì Hàm lượng acid (g) 0,45 [7Ì Thiamin (mg) 0,01 — 0,025 [3], [16] Riboflavin (mg) 0,013 — 0,05 [3], [16] Niacin (mg) 0,292 [3] Vitamin C (mg) 4,6 — 36,7 [3], [16], [7] Bảng số liệu trên cho thấy chùm ruột có thành phân hóa học phong phú.
Trong quả tươi có chứa 86 „7 — 91 7% âm. Chùm ruột không chứa nhiều các chất dinh dưỡng như protein, lipid nhưng chùm ruột lại là nguồn cung cấp vitamin C và khoáng chất, giàu kali, canxi. Ngoài ra, chùm ruột còn chứa các chấtt vi lượng khác như thiamin, riboflavin, niacin. Mùi thơm của qua là một tổ hop gồm rất nhiều chất thom khác nhau, có thé là hàng trăm chất, trong số này có một vài chất đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định mùi đặc trưng của quả.
Ở các loại quả, các chất thơm thường là các ester, ancohol, andehyt va ceton [15]. Chùm ruột đã được xác định có 77 thành phan hop chat dé bay hoi gồm 45 terpens, 18 ester, 7 acid, 4 aldehyde, 2 phenol va | alcohol. Nghiên cứu cho thay thành phan terpens và acid chiếm ưu thé trong thành phan tao mùi, vi cho qua. Ham lượng của terpens trong trai chùm ruột là 101,1 mg/kg.
Trong nhóm terpens, có nhiều monoterpens và secquiterpenes đã được xác định. Đại diện chính của nhóm terpens là # -muurolol có nồng độ 32,9 mg/kg quả và Ø -cadinol có nông độ 22,1 mg/kg quả [21]. Chùm ruột có vi chua bởi hàm lượng acid ở trong nó.Pino va cộng sự (2007) đã xác định hàm lượng của 7 acid trong trái chùm ruột là 6,7 mg/kg, trong đó acid hexadecanoic có giá trị cao nhất 3,8 mg/kg quả [21].4 Vitamin C trong trái chùm ruột Vitamin C có chức năng chung như là một chất khử sinh học, đặc biệt trong phản ứng hydroxyl hóa và như một chất chỗng oxy hóa bảo vệ cơ thé chống lại các tác nhân gây oxy hóa [22]. Chùm ruột có hàm lượng vitamin C khá cao, cao gấp 1,2 lần so với táo ta và khế [8].
Có sự khác biệt đáng kế về hàm lượng vitamin C trong các công bố trước đây: Theo Morton và cộng sự (1978), hàm lượng vitamin C trong dịch chùm ruột là 4,6mg/100g nguyên liệu [3]. Trong khi số liệu của Bộ Y tế Thái Lan (1970) về hàm lượng vitamin C trong trái chùm ruột đạt 8mg/100g nguyên liệu [16]. Một nghiên cứu khác của Mahapatra và cộng sự (2011) trên 15 loại trai cây hoang dã, kết quả cho thay chùm ruột là nguồn tốt dé cung cấp vitamin C với hàm lượng 36/7 mg/100g chất khô, cao hon 4.2 lần so với chuối, 8 lần so với táo, 6 lần so với lựu [7]. Còn theo nghiên cứu của Suriyavathana và cộng su (2011) thi hàm lượng vitamin C trong trái chùm ruột đạt 250.5 mg/100g nguyên liệu [2].
Nguyên nhân cua sự khác biệt này có thể là do nguồn của nguyên liệu khác nhau, độ chín của trái chùm ruột và điều kiện bảo quản nguyên liệu trong quá trình thí nghiệm có sự khác biệt.5 Các hợp chất phenolic trong trái chùm ruột Các hop chất phenolic đóng góp trực tiếp cho hoạt động chống oxy hóa do sự hiện diện của các nhóm chức hydroxyl [23]. Hàm lượng phenolic trong dịch chùm ruột đạt 204,75 + 4,99 mg GAE/100g nguyên liệu [8]. Một nghiên cứu khác của Eldeen và cộng sự (2012) trên trái chùm ruột cho thay ham lượng phenolic chi dat 0,16+0,38 mg GAE/g chat khô [24]. Còn theo nghiên cứu của Hossain và cộng sự (2008) cho thay hàm lượng phenolic của chùm ruột là 31,4 + 0,5 mg GAE/ g chat khô [25].
Theo Habib và cộng sự (2011) thì hàm lượng phenolic tổng của trái chùm ruột đạt 24. Những khác biệt về thành phan phenolic trong trái chùm ruột, có thé do ảnh hưởng của nhiều yếu tô bên ngoài như giống cây, điều kiện tổ nhưỡng ,vị trí địa lý, điều kiện khí hậu và cường độ ánh sáng [27]. Một số thành phan các hợp chat phenolic (mg/100g dịch trích) đã được xác định trong dịch trái chùm ruột: acid gallic 230,69 + 3,31; dihydroquercetin (taxifolin) 103,33 + 9,31; myricetin 85,42 + 6,51; quercetin 142,68 + 12,49; kaempferol 4,54 + 0,19 [8]. Day là những thành phân có hoạt tính chống oxy hóa.2_ Enzyme pectinase và ứng dụng trong sản xuất nước quả 2.1 Enzyme pectinase Thành tế bào thực vật có cau tao chủ yếu từ cellulose, hemicellulose và protopectin.
Mô thực vật được liên kết vững chắc với nhau nhờ lớp kết dính trung gian cau tạo chủ yếu từ pectin (hình 2. Enzyme pectinase là nhóm enzyme thứ ba được ứng dụng rộng rãi sau amylase va protease [28]. Enzyme pectinase thủy phân các chat pectin, sản phẩm cuối tạo thành là acid galacturonic, galactose, methanol.