ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một loại tài nguyên có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trƣờng sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân, với sự sống còn của dân tộc. Tuy vậy, diện tích rừng ngày một suy giảm do nhiều nguyên nhân, trong đó có kể đến cháy rừng. Cháy rừng là một thảm hoạ gây ảnh hƣởng đến tài nguyên rừng, để lại những hậu quả nặng nề về cả mặt kinh tế, xã hội cũng nhƣ cắc vấn đề môi trƣờng nhƣ nguy cơ xói mòn, suy thoái đất đai, lũ lụt, suy giảm đa dạng sinh học… Số liệu thống kê cho thấy, hàng năm trên thế giới trung bình có khoảng 10-15 triệu ha rừng bị cháy [4], có những năm còn tăng lên gấp đôi. Ngay cả đối với nƣớc có trình độ khoa học kỹ thuật phát triển nhƣ Mỹ cũng bị thiệt hại nặng nề do cháy rừng.
Trong năm 2015 nƣớc Mỹ xảy ra hơn 51.000 vụ cháy rừng, thiêu rụi tới 4,5 triệu ha rừng, lớn hơn cả diện tích đất nƣớc Đan Mạch [13]. Ở khu vực Đông Nam Á, Indonesia là nƣớc thƣờng xảy ra cháy rừng với thiệt hại lớn nhất [4],[13]. Đặc biệt cuối năm 2015, cháy rừng bùng phát và lan rộng từ hai hòn đảo lớn của Indonesia, khói bụi của đám cháy thậm chí còn lan rộng sang cả 2 nƣớc láng giềng là Singapore và Malaysia, khiến bầu không khí nơi đây chìm trong khói mù.000 ngƣời bị ảnh hƣởng trực tiếp và 43 triệu dân cƣ quanh khu vực phải hít khói độc trong nhiều tháng. Ƣớc tính, Indonesia đã thiệt hại tới 35 tỷ USD, vụ cháy rừng đƣợc coi là một trong những thảm họa thiên nhiên nghiêm trọng nhất thế kỷ 21 [13].
Tại Việt nam, theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp và PTNT (2015) [2], đến hết tháng 12/2014 Việt Nam có 13,796 triệu ha rừng (10,100 triệu ha rừng tự nhiên và 3,696 triệu ha rừng trồng), với độ che phủ 40. Trong đó, có trên 50% là diện tích rừng có nguy cơ cháy cao, chủ yếu là rừng: Thông, tràm, tre nứa, keo, bạch đàn, rừng khộp, rừng non khoanh nuôi tái sinh tự nhiên. Diện tích rừng trồng, rừng non do khoanh nuôi tái sinh 1 ngày càng đƣợc mở rộng, cùng với diễn biến bất thƣờng của thời tiết làm tăng nguy cơ cháy rừng, gây thiệt hại lớn về kinh tế và môi trƣờng sống. Theo báo cáo của Cục Kiểm lâm 2015 [7], trong giai đoạn 10 năm (2005-2014), cả nƣớc đã xẩy ra 7.380 vụ cháy rừng; diện tích rừng bị thiệt hại 49.
Bình quân 715 vụ/năm, diện tích gần 5000 ha/năm. Thiệt hại giá trị kinh tế về tài nguyên rừng hàng trăm tỷ đồng mỗi năm và ảnh hƣởng nghiêm trọng về môi trƣờng sống. Chính vì những thiệt hại đó mà công tác phòng cháy chữa cháy rừng đƣợc coi là nhiệm vụ hết sức quan trọng ở Việt Nam và nhiều nƣớc trên thế giới. Xã Xuân Nha thuộc huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, với tổng diện tích tự nhiên là 9.374,2 ha, đất lâm nghiệp 6.710,1 ha, chủ yếu là rừng tự nhiên phòng hộ[18],[19].
Trong những năm vừa qua UBND xã Xuân nhà và Hạt kiểm lâm huyện Vân Hồ đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế cháy rừng, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, tuy nhiên hiệu quả còn thấp,do việc xây dựng kế hoạch PCCCR còn chƣa sát với thực tế. Do vậy, đánh giá đúng thực trạng công tác PCCCR tại địa phƣơng, để từ đó có các biện pháp nhằm hạn chế những thiệt hại do cháy rừng là một việc làm cần thiết. Xuất phát từ vấn đề thực tiễn trên của địa phƣơng, tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp quản lý lửa rừng cho xã Xuân Nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La”. 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Cháy rừng là một hiện tƣợng phổ biến, thƣờng xuyên xẩy ra gây nên những tổn thất to lớn về nhiều mặt. Vì vậy, việc nghiên cứu về PCCCR luôn là yêu cầu cấp bách của thực tiễn. Trên thế giới, những nghiên cứu về PCCCR nói chung đã đƣợc tiến hành cách đây khoảng hơn 100 năm, đã đƣa ra đƣợc nhiều phƣơng pháp với những kết quả ứng dụng khác nhau. - Nghiên cứu bản chất của cháy rừng Nhiều kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng cháy rừng là hiện tƣợng ôxy hoá các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao.
Nó xẩy ra khi có mặt đồng thời của 3 yếu tố, sự kết hợp của chúng là tam giác lửa: nguồn nhiệt (lửa), ôxy và vật liệu cháy [4],[10],[22]. Tuỳ thuộc vào đặc điểm của 3 yếu tố trên mà cháy rừng có thể đƣợc hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi. Vì vậy, về bản chất, những biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hƣớng ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy. Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng [12],[23]: (1)-Cháy dƣới tán cây, hay cháy mặt đất rừng, là trƣờng hợp chỉ cháy một phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất; (2)-Cháy tán rừng (ngọn cây) là trƣờng hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang tán cây khác; (3)-Cháy ngầm là trƣờng hợp xẩy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dƣới mặt đất, trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn.
Trong một đám cháy rừng có thể xẩy ra một hoặc đồng thời 2, 3 loại cháy rừng trên. Tuỳ theo loại cháy rừng mà áp dụng những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau. - Nghiên cứu về dự báo nguy cơ cháy rừng 3 Ở Mỹ từ năm 1914, hai nhà khoa học E.ShoW đã đƣa ra phƣơng pháp dự báo cháy rừng thông qua việc xác định độ ẩm của tầng thảm mục trong rừng [4],[10]. Sau đó có nhiều phƣơng pháp và mô hình dự báo đƣợc đề xuất và cải tiến trên cơ sở phân ra các mô hình vật liệu, kết hợp giữa các yếu tố thời tiết, độ ẩm vật liệu cháy với địa hình để dự báo mức độ nguy hiểm của lửa rừng.
Đến nay, các nhà khoa học Mỹ đã đƣa ra đƣợc hệ thông dự báo mức độ nguy hiểm của cháy rừng tƣơng đối hoàn thiện và khá tiện lợi trong sử dụng. Ở Nga và các nƣớc thuộc Liên Xô cũ, vấn đề dự báo cháy rừng cũng đƣợc bắt đầu từ rất sớm, có nhiều phƣơng pháp dự báo cháy rừng đã đƣợc nghiên cứu thử nghiệm và áp dụng. Điển hình là các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nhƣ E.Arxubasev (1957) [4],[22]… Trong các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học nêu trên thì phƣơng pháp dự báo theo chỉ tiêu tổng hợp căn cứ vào 3 nhân tố khí tƣợng là lƣợng mƣa, nhiệt độ, độ chênh lệch bão hoà của độ ẩm không khí lúc 13h do V.NeSterov đề xuất là đƣợc áp dụng nhiều nhất [4],[10],[22]. Công thức tính chỉ tiêu tổng hợp của V.NeSterov nhƣ sau: Pi= ∑ ti13.di13 Trong đó Pi là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá mức độ nguy hiểm của một ngày i nào đó ; n là số ngày không mƣa hoặc có mƣa với lƣợng mƣa dƣới 5mm kể từ ngày có trận mƣa ≥ 5mm ; ti13; di13 là nhiệt độ, độ chênh lệnh bão hòa độ ẩm không khí tại thời điểm 13h ngày dự báo.
Ông đã chia ra 5 cấp cháy rừng với giá trị P : giá trị P tỷ lệ thuận với nhiệt độ, số ngày không mƣa tỷ lệ nghịch với ẩm độ không khí, lƣợng mƣa 4 ngày cấp I có giá trị thấp nhất (P<300) cấp V có giá trị lớn nhất (P>4000) giá trị P càng cao thì nguy cơ xảy ra cháy rừng càng lớn. Ở Thuỵ Điển và các nƣớc thuộc bán đảo Scandinavia, dùng chỉ số Angstrom để dự báo khả năng cháy rừng, nhƣng chỉ tiêu này không đề cập đến tốc độ gió và mƣa nên có thể han chế độ chính xác [4],[23]. Tuy nhiên đây là phƣơng pháp đơn giản dễ tính nên cũng đƣợc áp dụng rộng rãi ở Bồ Đào Nha và thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha. - Nghiên cứu về biện pháp phòng và chữa cháy rừng Các nhà nhiên cứu trên thế giới nghiên cứu các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng chủ yếu hƣớng vào làm suy giảm các thành phần của tam giác lửa [4],[23]: (1)- Di chuyển, tạo nên sự “đứt quãng” nguồn vật liệu cháy bằng cách dọn vật liệu cháy trên mặt đất thành băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy với phần rừng còn lại.
(2)- Đốt trƣớc một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm để giảm khối lƣợng vật liệu cháy vào thời kỳ khô hạn nhất, hoặc đốt có điều khiển theo hƣớng ngƣợc với hƣớng lan tràn của đám cháy để cô lập đám cháy. (3)- Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lƣợng của đám cháy hoặc ngăn cách vật liệu cháy với ôxy trong không khí (nƣớc, đất, cát, bọt CO 2, khí CCl4, hỗn hợp C 2H5Br với CO2 v. - Nghiên cứu về phân vùng trọng điểm cháy rừng Khả năng xuất hiện và mức thiệt hại của cháy rừng thƣờng phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm của các nhân tố ảnh hƣởng quan trọng nhất nhƣ đặc điểm khí hậu, thời tiết và đặc điểm các trạng thái rừng. Những khu vực có lƣợng mƣa lớn và phân bố đều hoặc có những trạng thái rừng ẩm thƣờng ít xảy ra cháy rừng.
Ngƣợc lại, những khu vực khô hạn, mƣa phân bố không đều hoặc có những trạng thái rừng dễ cháy thƣờng xảy ra cháy nhiều hơn. Vì vậy, để sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phòng cháy chữa cháy rừng, 5 thƣờng căn cứ vào đặc điểm của các nhân tố ảnh hƣởng đến cháy rừng để phân chia lãnh thổ thành những khu vực có nguy cơ cháy rừng khác nhau. Ngƣời ta sẽ tập trung phòng cháy chữa cháy nhiều hơn vào những vùng có nguy cơ cháy cao và giảm đi ở những vùng có nguy cơ cháy ít hơn. Việc phân chia lãnh thổ thành những vùng khác nhau theo nguy cơ cháy rừng đƣợc gọi là phân vùng trọng điểm cháy rừng.
Công việc này đƣợc thực hiện ở hầu hết các quốc gia. Cho đến nay có hai phƣơng pháp đƣợc áp dụng chủ yếu để phân vùng trọng điểm cháy rừng: phân vùng theo các nguyên nhân ảnh hƣởng đến cháy rừng và phân vùng theo thực trạng cháy rừng. Ở phƣơng pháp thứ nhất, căn cứ vào đặc điểm phân bố các yếu tố ảnh hƣởng đến cháy rừng nhƣ khí hậu, địa hình, thổ nhƣỡng và kiểu thảm thực vật để phân vùng trọng điểm cháy.