ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng không chỉ đối với mỗi quốc gia mà với toàn nhân loại. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí. Tuy nhiên, tài nguyên rừng trên thế giới ngày càng bị suy giảm cả về chất lượng và số lượng. Một trong những nguyên nhân đó là do cháy rừng.
Cháy rừng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực tới tài nguyên rừng, môi trường và đa dạng sinh học. Những hậu quả do cháy rừng gây ra vừa tức thời vừa lâu dài trên nhiều phương diện, đặc biệt trong điều kiện rừng nhiệt đới. Hậu quả của cháy rừng đối với con người và môi trường là vô cùng to lớn. Việt Nam hiện có trên 13,9 triệu ha rừng (10,4 triệu ha rừng tự nhiên và 3,5 triệu ha rừng trồng), trong đó có trên 50% là diện tích rừng có nguy cơ cháy cao, chủ yếu là rừng: thông, tràm, tre nứa, keo, bạch đàn, rừng khộp, rừng non khoanh nuôi tái sinh tự nhiên… (Tổng Cục Lâm Nghiệp, 2014) [16].
Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm [19], trong giai đoạn 10 năm (2002-2011), cả nước đã xảy ra 7.380 vụ cháy rừng; diện tích rừng bị thiệt hại 49. Bình quân 715 vụ/năm, diện tích rừng bị thiệt hại gần 5. Thiệt hại giá trị kinh tế về tài nguyên rừng hàng trăm tỷ đồng mỗi năm và ảnh hưởng nghiêm trọng về môi trường sống.600 ha rừng, trong đó có 481.450 ha rừng tự nhiên, còn lại là rừng trồng dễ cháy. Diện tích rừng dễ cháy khá lớn so với cả nước.
Nằm ở khu vực Bắc trung bộ, tỉnh Quảng Bình thường chịu ảnh hưởng mạnh của thời tiết gió Tây khô nóng vào mùa khô. Dạng thời tiết này cùng với các hoạt động sử dụng lửa vô ý thức của con người như: canh tác nương rẫy, đốt 1 đồng mía, đốt ong… tạo điều kiện thuận lợi cho cháy rừng và gây nguy cơ tiềm ẩn về cháy rừng rất cao [11]. Quảng Bình được xem là một tỉnh trọng điểm cháy của cả nước. Lâm trường Đồng Hới quản lý hơn 5840 ha diện tích rừng và đất rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Mặc dù được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền từ tỉnh đến thành phố trong công tác PCCCR nhưng những năm gần đây cháy rừng vẫn xảy ra thường xuyên. Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm Đồng Hới[17], trong 6 năm gần đây (2009-2014), trên địa bàn lâm trường đã xảy ra 28 vụ cháy, gây ra những tổn thất to lớn về tài nguyên và kinh tế - xã hội địa phương. Nhằm bổ sung thêm cơ sở khoa học và đáp ứng những nhu cầu cấp bách trong công tác quản lý lửa rừng tại địa phương, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ở Lâm trường Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình”. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Thế giới Trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu về phòng cháy chữa cháy rừng được các nhà khoa học tiến hành từ đầu thế kỷ XX. Việc nghiên cứu vào thời kỳ đầu chủ yếu tập trung ở một số quốc gia có nền công nghiệp rừng phát triển như: Mỹ, Nga, Đức, Thuỵ Điển, Canada, Pháp, Australia… Sau đó, hầu hết các nước có hoạt động lâm nghiệp đều tập trung đến vấn đề này. Hiện nay, những nghiên cứu về phòng cháy chữa cháy rừng được chia thành 5 lĩnh vực: bản chất của cháy rừng, phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng, các công trình phòng cháy chữa cháy rừng, phương pháp chữa cháy rừng và phương tiện chữa cháy rừng. Nghiên cứu về bản chất cháy rừng Các kết quả nghiên cứu khẳng định rằng cháy rừng là hiện tượng oxy hoá các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao.
Cháy rừng chỉ xảy ra khi đồng thời có mặt 3 yếu tố: Nguồn nhiệt, Oxy và Vật liệu cháy ( các yếu tố này hình thành nên tam giác lửa). Tuỳ thuộc vào đặc điểm của 3 yếu tố này mà cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi [4], [13], [20]. Vì vậy về bản chất, các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng giảm thiểu và ngăn chặn quá trình cháy. Trong một đám cháy có thể xuất hiện một hoặc đồng thời các loại cháy: Cháy mặt đất, Cháy tán hay Cháy ngầm.
Tuỳ theo loại cháy rừng có thể sử dụng những biện pháp phòng cháy chữa cháy khác nhau. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển cháy rừng là: thời tiết, địa hình, trạng thái rừng và hoạtđộng kinh tế xã hội của con người [1], [6]. Thời tiết, đặc biệt là lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm không khí ảnh hưởng quyết định đến tốc độ bốc hơi và độ ẩm vật liệu cháy dưới rừng, qua đó ảnh hưởng đến khả năng 3 bén lửa và lan tràn đám cháy. Trạng thái rừng ảnh hưởng đến tính chất vật lý, hoá học, khối lượng và phân bố của vật liệu cháy.
Địa hình: độ dốc, hướng dốc… ảnh hưởng đến loại cháy, khả năng cháy và tốc độ lan tràn của đám cháy. Hoạt động kinh tế xã hội của con người như: canh tác nương rẫy, săn bắn, du lịch. ảnh hưởng đến mật độ và phân bố nguồn lửa khởi đầu của các đám cháy. Phần lớn các biện pháp phòng chống cháy rừngđều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm của của các yếu tố đó trong hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương.
Nghiên cứu phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định mối liên hệ chặt giữa điều kiện thời tiết, mà quan trọng nhất là lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm không khí với độ ẩm vật liệu và khả năng xuất hiện cháy rừng. Vì vậy, hầu hết các phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng đều tính đến đặc điểm diễn biến hàng ngày của lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ở một số nước, khi dự báo nguy cơ cháy rừng ngoài căn cứ vào yếu tố khí tượng người ta còn căn cứ vào một số yếu tố khác như ở Đức và Mỹ người ta sử dụng thêm độ ẩm của vật liệu cháy [13], [20];ở Pháp người ta tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất và độ ẩm vật liệu cháy; ở Trung Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió, số ngày không mưa và lượng bốc hơi. [20] Cũng có sự khác biệt nhất định khi sử dụng các yếu tố khí tượng để dự báo nguy cơ cháy rừng như ở Thuỵ Điển và một số nước ở bán đảo Scandinavia người ta sử dụng độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày.
Trong khi đó ở Nga và một số nước khác lại dùng nhiệt độ và độ ẩm không khí lúc 13 giờ[4], [20]. Ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương pháp cho điểm các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng và nguy cơ cháy rừng được tính theo tổng số điểm của các yếu tố, trong đó có cả những yếu tố kinh tế xã hội. Mặc dù có những nét giống nhau nhưng cho đến nay vẫn không có phương pháp dự báo cháy rừng chung cho cả thế giới mà ở mỗi nước thậm chí mỗi địa phương vẫn nghiên 4 cứu xây dựng phương pháp riêng. Ngoài ra, vẫn còn rất ít phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng có tính đến yếu tố kinh tế xã hội và kiểu rừng.
Nghiên cứu về công trình phòng cháy, chữa cháy rừng Kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định hiệu quả của các loại băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu tập đoàn cây trồng trên băng xanh cản lửa, trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ, đập nhằm làm giảm nguy cơ cháy rừng. Nghiên cứu hệ thống cảnh báo cháy rừng như chòi canh, tuyến tuần tra, điểm đặt biển báo, biển cấm lửa. Nhìn chung thế giới đã nghiên cứu hiệu quả của nhiều kiểu công trình phòng chống cháy rừng nhưng chưa xác định được tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình đó để áp dụng phù hợp với từng địa phương, từng trạng thái rừng.
Nghiên cứu về biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng Trong nghiên cứu các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa [8], [12], [21]: - Giảm nguồn nhiệt bằng nhiều cách: dọn vật liệu cháy, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy với phần rừng còn lại. - Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng cònẩm để giảm khối lượng vật liệu cháy vào thời kỳ khô hạn nhất, hoặc đốt theo hướng ngược với hướng lan tràn của đám cháy để cô lập đám cháy. - Dùng chất dập cháy như: nước, đất, cát, hoá chất dập cháy… để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cách vật liệu cháy với oxy trong không khí. Nghiên cứu về phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng Những phương tiện phòng chống cháy rừng đã được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát hiện đám cháy, thông tin về cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy.
Các phương pháp dự báo đã được mô hình hoá và xây dựng thành những phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của dự báo 5 nguy cơ cháy rừng [4], [13]. Việc ứng dụng ảnh viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích được những diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khả năng xuất hiện cháy rừng, phát hiện sớm đám cháy trên những vùng rộng lớn, thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy cơ cháy rừng và biện pháp phòng chống cháy rừng hiện nay được truyền qua nhiều kênh khác nhau đến các lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng và cộng đồng dân cư. Những phương tiện dập lửa được nghiên cứu theo cả hướng phát triển phương tiện thủ công từ cào, cuốc, dao, câu liêm.