Tổng quan luận án

Tình trạng đồng nhiễm giữa vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và trực khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) là một trong những thách thức y tế công cộng lớn nhất trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. HIV làm suy giảm hệ thống miễn dịch qua việc phá hủy tế bào lympho T CD4+, từ đó làm gia tăng nguy cơ tiến triển từ nhiễm lao tiềm ẩn thành bệnh lao hoạt động lên gấp 21 đến 34 lần; đồng thời, bệnh lao cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở những người nhiễm HIV (chiếm gần 50% số ca tử vong liên quan đến AIDS). Tại Việt Nam, dịch HIV tập trung chủ yếu ở các nhóm quần thể có hành vi nguy cơ cao, đặc biệt là nhóm người nghiện chích ma túy (NCMT) với tỷ lệ hiện nhiễm theo giám sát trọng điểm quốc gia là 13,4% (năm 2011) và 11,6% (năm 2012). Cùng với đó, Việt Nam là quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao (xếp thứ 12 trong 22 nước có số lượng bệnh nhân lao cao nhất thế giới và thứ 14 trong 27 nước có tỷ lệ lao đa kháng thuốc cao).

Khu vực Tây Nguyên và tỉnh Đắk Lắk mang các đặc thù về dịch tễ học và xã hội: tỷ lệ phân bố người nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại Đắk Lắk lên tới 43,55%, địa bàn miền núi rộng lớn gồm 34 dân tộc cùng sinh sống, địa hình phức tạp, trình độ kinh tế còn thấp và di dân tự do diễn biến đa dạng. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, khu vực Tây Nguyên chưa có bất kỳ công trình khoa học nào công bố dữ liệu toàn diện về tình hình nhiễm HIV, bệnh lao có vi khuẩn kháng cồn kháng toan trong đờm [AFB (+)] và sự phối hợp can thiệp dự phòng trên nhóm NCMT. Luận án tiến sĩ y tế công cộng của tác giả Phạm Thọ Dược thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống dữ liệu và thực tiễn can thiệp tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung chính:

  1. Xác định tỷ lệ nhiễm HIV và bệnh lao AFB (+) trong nhóm nghiện chích ma túy ở tỉnh Đắk Lắk năm 2011.
  2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng đồng nhiễm HIV và lao trên nhóm nghiện chích ma túy.
  3. Đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng cộng đồng nhằm hạn chế tình trạng nhiễm HIV và lao trên nhóm nghiện chích ma túy giai đoạn 2011 - 2012.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nam giới từ 18 tuổi trở lên, có hành vi nghiện chích ma túy trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra, có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại tỉnh Đắk Lắk, đồng ý tự nguyện tham gia và thực hiện đủ 3 nội dung: trả lời phỏng vấn theo bộ câu hỏi, cung cấp đủ mẫu máu xét nghiệm HIV và cung cấp đủ 3 mẫu đờm xét nghiệm vi khuẩn lao.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai tại 3 địa bàn hành chính trọng điểm của tỉnh Đắk Lắk gồm Thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Ea H'leo và huyện Krông Pắc.
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2011 đến tháng 12/2012, bao gồm giai đoạn chuẩn bị và khảo sát địa bàn (tháng 1 - 6/2011), điều tra cắt ngang trước can thiệp (tháng 7 - 9/2011), triển khai can thiệp cộng đồng trong 12 tháng (tháng 10/2011 - 9/2012) và điều tra cắt ngang sau can thiệp (tháng 10 - 12/2012).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp hệ thống y văn chuyên ngành trong nước và quốc tế về dịch tễ học, các yếu tố nguy cơ và các mô hình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV và bệnh lao:

  • Các nghiên cứu quốc tế:

    • Venkatesan Chakrapani (2011) tại Ấn Độ nghiên cứu trên nhóm NCMT, ghi nhận tỷ lệ nhiễm HIV là 38% và 33,3% sử dụng chung bơm kim tiêm (BKT); các yếu tố liên quan đến hành vi dùng chung gồm tâm lý e ngại mua BKT tại nhà thuốc, độ bao phủ của chương trình cấp phát BKT sạch miễn phí còn thấp, thiếu BKT trong nhà tù và nỗi sợ bị cơ quan chức năng phát hiện.
    • Alland và cộng sự tại New York (Hoa Kỳ) xác định các yếu tố nguy cơ nhiễm lao gồm tuổi trẻ, sinh tại Mỹ, nhóm thiểu số gốc Tây Ban Nha/Bồ Đào Nha và nhiễm HIV. Trong khi đó, nghiên cứu trên nhóm thợ mỏ tại Nam Phi lại không ghi nhận HIV là yếu tố nguy cơ trong nhóm đối tượng này.
    • Murray và Alland tại New York khi đánh giá tác động của HIV đến lây nhiễm lao, sau khi hiệu chỉnh các biến số gây nhiễu, đã xác định tỷ số nguy cơ mắc lao ở người nhiễm HIV là 23,6 (so với mức 2,7 khi chưa hiệu chỉnh).
    • Các nghiên cứu dịch tễ ghi nhận nguy cơ mắc lao tăng ở nhóm sử dụng thuốc lá (tăng từ 1,5 đến 2 lần), tiêu thụ trên 40g cồn/ngày, người thiếu cân có chỉ số khối cơ thể BMI < 18,5 (tăng nguy cơ 2,6 lần), người suy giảm nồng độ vitamin D huyết thanh, bệnh nhân bụi phổi silic (nguy cơ tương đối 1,4 - 2,9), bệnh nhân ung thư huyết học (nguy cơ cao gấp hơn 40 lần người bình thường), bệnh nhân tiểu đường (nguy cơ gấp 2,9 lần), bệnh nhân suy thận mạn tính (nguy cơ cao hơn từ 6,9 đến 52,5 lần), người phẫu thuật cắt dạ dày (nguy cơ tương đối 1,7 - 2,0), bệnh nhân Celiac (tỷ suất nguy cơ 3,74) và người sử dụng prednisone liều $\ge$ 15 mg/ngày kéo dài trên 1 tháng (nguy cơ cao gấp 4,9 lần).
  • Các nghiên cứu và số liệu tại Việt Nam:

    • Trịnh Lê Sang và cộng sự tại Bắc Giang đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông sau 3 năm ở nhóm NCMT, ghi nhận hành vi dùng chung BKT trong 6 tháng giảm từ 40,63% xuống 17,50% (chỉ số hiệu quả CSHQ = 56,92%, $p < 0,01$), dùng chung dụng cụ pha thuốc giảm từ 51,04% xuống 37,19% (CSHQ = 100%, $p < 0,01$), tỷ lệ người có kiến thức đạt chuẩn tăng từ 63,7% lên 92,2% (CSHQ = 44,7%, $p < 0,01$).
    • Số liệu giám sát trọng điểm và các điều tra cắt ngang toàn quốc cho thấy tỷ lệ đồng nhiễm HIV/lao dao động từ 3,2% (năm 2002) đến 4,8% (năm 2004). Nghiên cứu năm 2005 tại 4 tỉnh (Khánh Hòa, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Thái Bình) ghi nhận tỷ lệ đồng nhiễm HIV/lao là 6,4% (trong đó nam giới chiếm 96,8%, nhóm 20 - 30 tuổi chiếm 42,1%). Điều tra tại 6 tỉnh (Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Phòng, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ) trên bệnh nhân lao phổi AFB (+) ghi nhận tỷ lệ nhiễm HIV là 8,2% (nam giới chiếm 94%). Tại An Giang năm 2006, tỷ lệ bệnh nhân lao được chẩn đoán ở người nhiễm HIV là 18,7% (146/780 ca).
    • Một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra có 34,1% bệnh nhân lao đồng nhiễm HIV tử vong trước khi kết thúc liệu trình điều trị; tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân lao phổi AFB (+) có HIV(+) là 26% so với 2% ở nhóm HIV(-).
  • Khoảng trống luận án giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu về HIV và lao đã được triển khai tại các đô thị lớn và vùng đồng bằng, khu vực miền núi Tây Nguyên—nơi có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT ở mức cao (Đắk Lắk đạt 43,55%)—vẫn chưa có nghiên cứu nào xác định đồng thời tỷ lệ hiện nhiễm HIV, bệnh lao AFB (+) và đánh giá mô hình can thiệp giảm hại kết hợp tại cộng đồng. Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống dịch tễ học và can thiệp thực địa này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm chuyên ngành

  • Khái niệm y học và dịch tễ: HIV (Human Immunodeficiency Virus, mã ICD-10 từ B20 đến B24) gây suy giảm miễn dịch qua việc làm mất tế bào lympho T CD4+ hỗ trợ; AIDS (Acquired Immunodeficiency Syndrome) là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Bệnh lao phổi do trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây nên; tiêu chuẩn AFB (+) được xác định khi phát hiện trực khuẩn kháng cồn kháng toan trong mẫu đờm qua phương pháp nhuộm soi Ziehl-Neelsen. Đồng nhiễm HIV/lao là tình trạng cùng tồn tại vi rút HIV và trực khuẩn lao trên cùng một cá thể.
  • Khung can thiệp giảm tác hại: Áp dụng gói dịch vụ can thiệp giảm hại toàn diện theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), bao gồm: phân phát và trao đổi BKT sạch, cung cấp bao cao su (BCS), điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone (MMT), tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện (VCT), giáo dục truyền thông thay đổi hành vi và quản lý lồng ghép bệnh lao/viêm gan C.
  • Khung chính sách và phối hợp liên ngành: Áp dụng chiến lược "Ba có" (Three I's) của WHO đối với HIV/lao (điều trị dự phòng bằng Isoniazid - IPT; tăng cường phát hiện ca mắc lao; kiểm soát nhiễm khuẩn), kết hợp Chương trình chống lao quốc gia (sử dụng hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp - DOTS 8 tháng) và các nguyên tắc lồng ghép hoạt động dự phòng, phát hiện, điều trị giữa hai chương trình phòng chống HIV/AIDS và phòng chống lao tại các tuyến y tế.
  • Cơ chế tương tác điều trị: Luận án tổng quan tương tác giữa thuốc điều trị lao Rifampicin với các thuốc kháng vi rút (ARV): Rifampicin làm giảm nồng độ Efavirenz (EFV) 25%, Nevirapine (NVP) 37% và các thuốc ức chế men protease (PIs như LPV, IDV) từ 80% đến 90%, đồng thời làm gia tăng nguy cơ nhiễm độc gan khi dùng đồng thời hai phác đồ.

Phương pháp nghiên cứu thực địa

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng không đối chứng, so sánh kết quả trước và sau 12 tháng triển khai can thiệp thông qua 2 cuộc điều tra cắt ngang tại hai thời điểm:
    • Thời điểm $T_0$ (trước can thiệp): Tháng 7 đến tháng 9 năm 2011.
    • Thời điểm $T_1$ (sau can thiệp): Tháng 10 đến tháng 12 năm 2012.
  • Địa bàn nghiên cứu: Chọn chủ đích 3 đơn vị hành chính cấp huyện/thành phố thuộc tỉnh Đắk Lắk dựa trên các tiêu chí về số lũy tích người nhiễm HIV cao, số hồ sơ người NCMT được quản lý lớn và có nhiều tụ điểm phức tạp:
    1. Thành phố Buôn Ma Thuột: Dân số 331.744 người (80% sống ở nội thành, 15% là dân tộc thiểu số), là đầu mối giao thông chính, ghi nhận 642 ca nhiễm HIV (cao nhất tỉnh).
    2. Huyện Ea H'leo: Nằm trên Quốc lộ 14 giáp tỉnh Gia Lai, dân số 111.904 người (người Kinh 60%, dân tộc tại chỗ 30%, dân tộc phía Bắc di cư tự do 10%).
    3. Huyện Krông Pắc: Nằm trên Quốc lộ 26 nối với Khánh Hòa, cách Buôn Ma Thuột 30 km, dân số 199.711 người (dân tộc thiểu số chiếm 25%).
  • Quy trình thu thập dữ liệu và kỹ thuật xét nghiệm:
    • Khảo sát địa bàn: Sử dụng phương pháp vẽ bản đồ địa dư - xã hội để xác định các tụ điểm NCMT và mạng lưới tiếp cận (thực hiện từ tháng 1 đến tháng 6/2011).
    • Thu thập số liệu hành vi: Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến tiêm chích ma túy, dùng chung BKT/dụng cụ pha thuốc, quan hệ tình dục và sử dụng bao cao su theo chuẩn đánh giá của UNGASS.
    • Xét nghiệm HIV: Thu thập mẫu máu tĩnh mạch và thực hiện quy trình xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng HIV theo quy chuẩn quốc gia.
    • Xét nghiệm phát hiện lao: Thu thập đủ 3 mẫu đờm theo đúng hướng dẫn của Chương trình chống lao quốc gia, thực hiện kỹ thuật nhuộm soi trực tiếp Ziehl-Neelsen tìm vi khuẩn AFB (+).

Nguồn số liệu

  • Nguồn số liệu sơ cấp thu thập trực tiếp từ 2 đợt điều tra cắt ngang đối tượng NCMT tại 3 địa bàn nghiên cứu.
  • Nguồn số liệu thứ cấp từ hệ thống báo cáo giám sát phát hiện, giám sát trọng điểm của Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Dự án Phòng chống lao Quốc gia, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Đắk Lắk, Trạm Lao tỉnh Đắk Lắk và số liệu quản lý người nghiện của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận, tình hình dịch tễ học và các mô hình can thiệp trên toàn cầu, tại Việt Nam và tại tỉnh Đắk Lắk:

  • Dịch tễ học HIV/AIDS: Lịch sử đại dịch chia làm 3 thời kỳ (Thời kỳ yên lặng trước năm 1981, Thời kỳ phát hiện 1981 - 1985, Thời kỳ vận động toàn thế giới từ 1985 đến nay). Năm 2011, thế giới có 34 triệu người nhiễm HIV, 2,5 triệu ca nhiễm mới và 1,7 triệu ca tử vong do AIDS. Tại Việt Nam, tính đến 30/6/2012 ghi nhận 204.019 người nhiễm HIV còn sống và 58.856 bệnh nhân AIDS; đường lây qua tình dục chiếm 45,6%, qua đường máu chiếm 41,9% (ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, lây truyền qua đường máu chiếm trên 40%). Người NCMT chiếm 37,5% tổng số ca nhiễm được phát hiện.
  • Dịch tễ học bệnh lao và đồng nhiễm HIV/lao: Bệnh lao do vi khuẩn M. tuberculosis lây truyền qua đường hô hấp; toàn cầu có 2,2 tỷ người nhiễm lao, 8,7 triệu ca mắc mới năm 2011. Việt Nam đứng thứ 13 trong 22 nước có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới (ước tính 180.000 người mắc và gần 30.000 người tử vong hàng năm). Bệnh lao làm tăng tỷ lệ tử vong ở người nhiễm HIV; tỷ lệ đồng nhiễm HIV trong bệnh nhân lao ở các địa phương tại Việt Nam dao động từ 10% đến 40%.
  • Thực trạng tại tỉnh Đắk Lắk: Toàn tỉnh có 15/15 huyện/thị và 141/184 xã/phường ghi nhận người nhiễm HIV. Lũy tích đến cuối năm 2010 ghi nhận 1.520 người nhiễm HIV còn sống, 623 ca chuyển sang AIDS và 351 ca tử vong. Nhóm NCMT chiếm tỷ lệ 43,55% trong tổng số người nhiễm HIV, bệnh nhân lao chiếm 3,1%. Năm 2011 ghi nhận 170 ca nhiễm HIV mới (95 ca AIDS), năm 2012 ghi nhận 137 ca mới (65 ca AIDS).
  • Tổng quan các yếu tố nguy cơ và can thiệp giảm hại: Luận án phân tích các nhóm yếu tố nguy cơ về kinh tế - xã hội, chuẩn mực hành vi, dinh dưỡng (thiếu hụt vitamin D, chỉ số BMI < 18,5), các bệnh lý nền (bụi phổi, tiểu đường, suy thận, ung thư) và hành vi tiêm chích/tình dục không an toàn. Tổng hợp hiệu quả can thiệp giảm hại qua chương trình trao đổi BKT (tăng từ 2 triệu chiếc năm 2006 lên 27 triệu chiếc năm 2010 tại Việt Nam, giúp giảm tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT toàn quốc từ 28,6% năm 2004 xuống 17,24% năm 2010) và chương trình điều trị Methadone (giúp giảm tỷ lệ sử dụng ma túy bất hợp pháp từ 100% xuống 18% sau 9 tháng).
Chỉ số dịch tễ học và can thiệp được trích dẫn Phạm vi / Địa bàn Giá trị / Tỷ lệ ghi nhận Nguồn / Năm dữ liệu
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT Đắk Lắk 43,55% Số liệu lũy tích đến 2010/2012
Tỷ lệ người nhiễm HIV trong bệnh nhân lao Đắk Lắk 3,10% Số liệu lũy tích đến 2010/2012
Tỷ lệ phân bố HIV ở nhóm NCMT khu vực Tây Nguyên Tây Nguyên 38,2% (2011) ; 37,6% (2012) Báo cáo giám sát khu vực
Tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT sau can thiệp 3 năm Bắc Giang Giảm từ 40,63% xuống 17,50% Nghiên cứu Trịnh Lê Sang (CSHQ = 56,92%)
Tỷ lệ dùng chung dụng cụ pha thuốc sau can thiệp 3 năm Bắc Giang Giảm từ 51,04% xuống 37,19% Nghiên cứu Trịnh Lê Sang (CSHQ = 100%)
Tỷ lệ NCMT có kiến thức phòng HIV đạt chuẩn sau can thiệp Bắc Giang Tăng từ 63,7% lên 92,2% Nghiên cứu Trịnh Lê Sang ($p < 0,01$)
Nguy cơ tiến triển bệnh lao ở người nhiễm HIV Toàn cầu Cao gấp 20 - 37 lần người không nhiễm Báo cáo WHO
Nguy cơ mắc lao ở người thiếu cân (BMI < 18,5) Nghiên cứu y văn Cao gấp 2,6 lần người bình thường Tổng hợp tài liệu
Nguy cơ mắc lao ở bệnh nhân sử dụng Glucocorticoid kéo dài Nghiên cứu y văn Cao gấp 4,9 lần nhóm chứng Nghiên cứu tại Anh

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy chuẩn lựa chọn mẫu, địa bàn, quy trình kỹ thuật và tổ chức thực địa:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ:
    • Tiêu chuẩn chọn vào: Nam giới $\ge$ 18 tuổi; có hành vi NCMT trong 6 tháng gần nhất; có hộ khẩu tại Đắk Lắk; tự nguyện cam kết thực hiện đầy đủ 3 nội dung (phỏng vấn, lấy máu, nộp 3 mẫu đờm).
    • Tiêu chuẩn loại trừ: Người NCMT không có hộ khẩu tại tỉnh Đắk Lắk; dưới 18 tuổi; từ chối tham gia; không hoàn thành đủ 3 nội dung thu thập dữ liệu (ước tính tỷ lệ từ chối và không đủ điều kiện tham gia từ 5% đến 10%).
  • Đặc điểm 3 địa bàn nghiên cứu được chọn chủ đích:
    • Thành phố Buôn Ma Thuột: Trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh, dân số 331.744 người, 15% là dân tộc thiểu số, 80% dân cư đô thị, có số lượng người NCMT và ca nhiễm HIV cao nhất toàn tỉnh (642 ca).
    • Huyện Ea H'leo: Cửa ngõ phía Bắc tỉnh Đắk Lắk, nằm trên Quốc lộ 14 giáp Gia Lai, dân số 111.904 người (Kinh 60%, dân tộc tại chỗ 30%, dân tộc di cư tự do phía Bắc 10%), mật độ giao lưu kinh tế lớn.
    • Huyện Krông Pắc: Nằm ở phía Đông tỉnh Đắk Lắk, trên Quốc lộ 26 nối xuống Nha Trang, dân số 199.711 người (dân tộc thiểu số 25%), cách Buôn Ma Thuột 30 km.
  • Kế hoạch triển khai thực địa (2011 - 2012):
    • Giai đoạn chuẩn bị (01/2011 - 06/2011): Thu thập thông tin thứ cấp, lựa chọn địa điểm, vẽ bản đồ địa dư - xã hội xác định các điểm nóng/tụ điểm NCMT.
    • Điều tra cắt ngang đợt 1 ($T_0$, 07/2011 - 09/2011): Thu thập thông tin nền về kiến thức, thái độ, hành vi, lấy mẫu máu xét nghiệm HIV và 3 mẫu đờm xét nghiệm AFB (+).
    • Triển khai can thiệp cộng đồng (10/2011 - 09/2012): Thực hiện trong 12 tháng liên tục với các hoạt động can thiệp giảm tác hại, truyền thông chuyển đổi hành vi, cấp phát BKT, bao cao su và kết nối khám sàng lọc lao.
    • Điều tra cắt ngang đợt 2 ($T_1$, 10/2012 - 12/2012): Đánh giá lại các chỉ số hành vi, tỷ lệ hiện nhiễm HIV và tỷ lệ phát hiện lao AFB (+) sau can thiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Cung cấp bức tranh dịch tễ học thực chứng đầu tiên và toàn diện về thực trạng lây nhiễm HIV, tỷ lệ mắc lao AFB (+) và mức độ đồng nhiễm HIV/lao trong quần thể người nghiện chích ma túy tại khu vực Tây Nguyên (cụ thể tại tỉnh Đắk Lắk).
  • Bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học về mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện kinh tế - xã hội, hành vi tiêm chích chung BKT, hành vi tình dục không an toàn với nguy cơ đồng nhiễm HIV và trực khuẩn lao ở địa bàn miền núi đa dân tộc.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tính khả thi và hiệu quả của mô hình can thiệp dự phòng cộng đồng không đối chứng trong việc thay đổi nhận thức, giảm thiểu hành vi nguy cơ và thúc đẩy phát hiện sớm ca bệnh lao AFB (+) ở nhóm quần thể ẩn, khó tiếp cận.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Xây dựng thành công quy trình lập bản đồ địa dư - xã hội nhằm xác định các tụ điểm NCMT tại địa bàn đô thị và nông thôn miền núi, làm công cụ tiếp cận hiệu quả cho mạng lưới cán bộ y tế và đồng đẳng viên.
  • Thử nghiệm và hoàn thiện quy trình phối hợp liên ngành giữa Chương trình phòng, chống HIV/AIDS và Chương trình phòng, chống bệnh lao tuyến cơ sở trong việc lồng ghép tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện kết hợp thu thập 3 mẫu đờm xét nghiệm nhuộm soi AFB (+) cho đối tượng NCMT ngay tại cộng đồng.
  • Đưa ra mô hình can thiệp can dự dựa vào cộng đồng phù hợp với đặc điểm địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số và di dân tự do sinh sống.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tăng cường cơ chế phối hợp liên chương trình: Hoàn thiện và duy trì quy chế phối hợp thường quy giữa hệ thống phòng chống HIV/AIDS và hệ thống chống lao từ tuyến tỉnh, huyện đến xã/phường; bắt buộc tư vấn xét nghiệm phát hiện HIV cho bệnh nhân lao và tổ chức khám sàng lọc, xét nghiệm đờm tìm AFB (+) cho người nhiễm HIV và nhóm nguy cơ cao NCMT.
  • Mở rộng các biện pháp can thiệp giảm tác hại: Đẩy mạnh chương trình phân phát BKT sạch, bao cao su miễn phí qua mạng lưới đồng đẳng viên và nhà thuốc; mở rộng các cơ sở điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại các huyện trọng điểm.
  • Nâng cao năng lực y tế cơ sở: Đầu tư trang thiết bị, nâng cao kỹ thuật nhuộm soi kính hiển vi phát hiện AFB cho các phòng xét nghiệm tuyến huyện vùng sâu vùng xa; tập huấn nâng cao kỹ năng truyền thông, tiếp cận cộng đồng cho cán bộ y tế thôn buôn và giáo dục viên đồng đẳng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Về thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng thiết kế can thiệp cộng đồng không đối chứng (so sánh trước - sau can thiệp trên cùng địa bàn), do đó một số kết quả thay đổi hành vi hoặc tỷ lệ phát hiện có thể chịu ảnh hưởng đồng thời từ các chương trình y tế, kinh tế - xã hội khác đang diễn ra song song tại địa phương.
  • Về đối tượng chọn mẫu: Tiêu chuẩn chọn mẫu chỉ bao gồm nam giới NCMT từ 18 tuổi trở lên có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Đắk Lắk, chưa bao quát được nhóm đối tượng NCMT là nữ giới hoặc người nghiện chích di cư tự do không có hộ khẩu cố định trên địa bàn.
  • Về kỹ thuật xét nghiệm chẩn đoán lao: Phương pháp phát hiện lao trong nghiên cứu chủ yếu dựa vào kỹ thuật nhuộm soi đờm trực tiếp tìm AFB (+), kỹ thuật này có thể bỏ sót các trường hợp lao phổi AFB (-) hoặc các thể lao ngoài phổi vốn có tỷ lệ xuất hiện cao ở người nhiễm HIV bị suy giảm miễn dịch nặng.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại (như xét nghiệm GeneXpert MTB/RIF, kỹ thuật nuôi cấy) nhằm phát hiện sớm các ca bệnh lao AFB (-) và xác định tỷ lệ lao kháng đa thuốc (MDR-TB) trên nhóm người NCMT và người nhiễm HIV.
  • Nghiên cứu đánh giá hiệu quả dài hạn và tính bền vững của các can thiệp giảm hại sau khi các nguồn kinh phí hỗ trợ dự án kết thúc.
  • Mở rộng phạm vi đánh giá đồng nhiễm HIV/lao sang các nhóm đối tượng nguy cơ cao khác như phụ nữ bán dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) và bạn tình của người NCMT tại khu vực Tây Nguyên.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành có giá trị thực tiễn và học thuật cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Y tế công cộng, Dịch tễ học và Bệnh truyền nhiễm: Tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng, kỹ thuật vẽ bản đồ địa dư - xã hội để tiếp cận quần thể ẩn, phương pháp xây dựng bộ công cụ điều tra hành vi theo chuẩn quốc tế và quy trình thu thập mẫu bệnh phẩm kép (máu và 3 mẫu đờm) tại thực địa.
  • Nhà quản lý y tế và người hoạch định chính sách: Sử dụng các bằng chứng dịch tễ học và số liệu thực trạng tại Đắk Lắk để xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực, hoạch định chính sách can thiệp giảm hại và hoàn thiện quy chế phối hợp liên chương trình HIV/Lao tại các tỉnh miền núi, Tây Nguyên.
  • Cán bộ y tế dự phòng, cán bộ chuyên trách phòng chống lao và HIV/AIDS tuyến cơ sở: Tham khảo bài học kinh nghiệm trong tổ chức mạng lưới truyền thông đồng đẳng, quy trình quản lý ca bệnh đồng nhiễm và kỹ thuật vận động người NCMT tham gia sàng lọc y tế tự nguyện.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu can thiệp của luận án là gì?

Đối tượng được chọn vào nghiên cứu phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn: là nam giới từ 18 tuổi trở lên; có hành vi nghiện chích ma túy trong vòng 6 tháng trước thời điểm điều tra; có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại tỉnh Đắk Lắk; tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu và hoàn thành đầy đủ cả 3 nội dung: (1) Trả lời phỏng vấn theo bộ câu hỏi, (2) Lấy đủ mẫu máu xét nghiệm HIV, và (3) Lấy đủ 3 mẫu đờm xét nghiệm lao.

2. Ba địa bàn nghiên cứu tại tỉnh Đắk Lắk được tác giả lựa chọn dựa trên những căn cứ nào?

Ba địa bàn được lựa chọn chủ đích gồm Thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Ea H'leo và huyện Krông Pắc dựa trên các đặc điểm: có số người nhiễm HIV lũy tích cao; có số hồ sơ quản lý người NCMT tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cao hơn các huyện khác; có nhiều điểm giải trí, karaoke phức tạp, lượng di dân tự do lớn và là đầu mối giao thông thuận tiện giao lưu với các tỉnh Tây Nguyên và toàn quốc.

3. Tương tác dược lý giữa thuốc chống lao Rifampicin và các thuốc kháng vi rút ARV được văn bản nêu ra như thế nào?

Khi sử dụng đồng thời, Rifampicin làm giảm nồng độ của thuốc ARV trong máu: giảm 25% nồng độ Efavirenz (EFV), giảm 37% nồng độ Nevirapine (NVP) và giảm từ 80% đến 90% nồng độ các thuốc ức chế men protease (PIs như Lopinavir và Indinavir). Đồng thời, việc kết hợp hai phác đồ làm tăng đáng kể nguy cơ gây nhiễm độc gan cho người bệnh.

4. Nội dung của liệu pháp "Ba có" (Three I's) trong kiểm soát phối hợp HIV/lao theo hướng dẫn của WHO gồm những gì?

Liệu pháp "Ba có" do WHO khuyến cáo bao gồm: (1) Điều trị dự phòng bằng Isoniazid (Isoniazid Preventive Therapy - IPT) cho người nhiễm HIV chưa mắc lao; (2) Tăng cường phát hiện tích cực các trường hợp mắc bệnh lao (Intensified case finding); và (3) Kiểm soát nhiễm khuẩn lao (Infection control) tại các cơ sở chăm sóc, điều trị y tế.

5. Kết quả can thiệp truyền thông ở nhóm NCMT tại Bắc Giang trong nghiên cứu của Trịnh Lê Sang và cộng sự (được tác giả trích dẫn) đạt được những chỉ số nào?

Sau 3 năm can thiệp, tỷ lệ NCMT dùng chung BKT trong 6 tháng giảm từ 40,63% xuống 17,50% (CSHQ = 56,92%, $p < 0,01$); tỷ lệ dùng chung dụng cụ pha thuốc giảm từ 51,04% xuống 37,19% (CSHQ = 100%, $p < 0,01$); và tỷ lệ đối tượng có kiến thức phòng lây nhiễm HIV đạt yêu cầu tăng từ 63,7% lên 92,2% (CSHQ = 44,7%, $p < 0,01$).


Kết luận

Luận án tiến sĩ y tế công cộng của tác giả Phạm Thọ Dược là công trình nghiên cứu dịch tễ học và can thiệp thực địa chuyên sâu về thực trạng nhiễm HIV, bệnh lao phổi AFB (+) và đồng nhiễm HIV/lao trên nhóm người nghiện chích ma túy tại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011 - 2012. Thông qua thiết kế can thiệp cộng đồng kết hợp 2 cuộc điều tra cắt ngang tại 3 địa bàn trọng điểm, nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu thực chứng có giá trị về hành vi nguy cơ, rào cản tiếp cận dịch vụ và sự cần thiết của việc lồng ghép hai chương trình phòng chống dịch bệnh tại tuyến cơ sở. Kết quả và mô hình can thiệp của luận án đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác hoạch định chính sách y tế dự phòng tại khu vực Tây Nguyên và các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.