chương I của Luật Phòng, chống ma túy (2008): Người nghiện ma túy là người sử dụng ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần bị phụ thuộc vào các chất này Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này. Nghiện ma túy là một bệnh mãn tính của não bộ, quá trình điều trị phải liên tục, lâu dài. Phải kết hợp giữa sử dụng thuốc với các liệu pháp hành vi, các hỗ trợ về y tế, xã hội. Quá trình điều trị cần phải giám sát liên tục.
Sau quá trình điều trị tích cực tại các cơ sở điều trị nghiện, người nghiện ma túy cần được chuyển giao cho gia đình, cho địa phương tiếp tục theo dõi, hỗ trợ các hoạt động tư vấn sau điều trị. Họ cũng rất cần được hỗ trợ về y tế, việc làm để thực hiện cai nghiện ma túy thành công. Khái niệm về công tác xã hội Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội.
CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội 6 lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời kết thúc môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Hiệp hội công tác xã hội quốc tế và các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế (2011) Hệ thống nhất định nghĩa về công tác xã hội như sau: “Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia giải quyết các vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường quyền và giải phóng quyền nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội nhập vào sự tương tác của con người với môi trường sống. Khái niệm về nhân viên công tác xã hội Nhân viên công tác xã hội theo quan điểm tác giả Zastrow (1996): Nhân viên công tác xã hội là người được đào tạo công tác xã hội, sử dụng kiến thức hay kỹ năng để cung cấp các dịch vụ xã hội cho các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ chức, hay xã hội, nhân viên xã hội giúp đỡ con người tăng cường năng lực đối phó và giải quyết vấn đề và giúp đỡ họ tìm kiếm được các nguồn trợ giúp cần thiết, tạo điều kiện cho sự tương tác giữa các cá nhân và giữa con người với môi trường xung quanh họ, làm cho các tổ chức có trách nhiệm với con người và tác động đến các chính sách xã hội. Còn theo tác giả Lê Văn Phú (2008) trong tài liệu Nhập môn công tác xã hội thì : Nhân viên công tác xã hội là những người có khả năng phân tích các vấn đề xã hội, biết tổ chức, vận động, giáo dục, biết cách thức hành động nhằm tối ưu hóa sự thực hiện vai trò chủ thể của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào quá trình cải thiện, tăng cường chất lượng sống của cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội 7 Như vậy khái niệm NVCTXH chuyên nghiệp bao hàm các điều kiện: Thứ nhất là được đào tạo kiến thức, kỹ năng về CTXH; thứ hai là có nhiệm vụ trợ giúp các đối tượng đối phó với các vấn đề khó khăn của họ; thứ ba là thúc đẩy họ tự giải quyết thông qua nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. Trình độ tối thiểu quy định đối với nhân viên CTXH ở những nước có nghề CTXH phát triển như Mỹ, Anh, Canada, Australia, Philipines,.là phải tốt nghiệp đại học.
Bên cạnh đó, để được hành nghề, NVCTXH cần đăng ký và ở một số nơi còn cần phải thi lấy bằng hành nghề, NVCTXH cần đăng ký và ở một số nơi còn cần phải thi lấy bằng hành nghề CTXH rồi mới được hành nghề. Những người tham gia hoạt động CTXH chưa có bằng quy chuẩn được gọi là NVCTXH bán chuyên nghiệp hoặc là những cộng tác viên. Nhân viên công tác xã hội có thể làm việc trong các cơ quan nhà nước ở các cấp, ở cộng đồng và trong các cơ sở cung cấp dịch vụ, trong các trung tâm như cơ sở bảo trợ xã hội, trường giáo dưỡng, mái ấm, nhà mở hay các tổ chức phi chính phủ. Khi nhân viên công tác xã hội ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm thân chủ mà họ làm việc.
Công tác xã hội đối với người nghiện ma túy Vận động nguồn lực: là người trợ giúp thân chủ (cá nhân, gia đình, cộng đồng.) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề. Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ thụật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm. Người kết nối - còn gọi là trung gian: NVCTXH là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho thân chủ các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật để có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề. Người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng.
ai trò là người vận độnghoạt động xã hội: là nhà vận động xã hội tổ chức các hoạt động xã hội để 8 biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, cổ vũ tuyên truyền. Ví dụ như sự vận động cho quyền lợi của những người khuyết tật được hưởng chính sách hoà nhập. Người giáo dục: Là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết. Người tạo sự thay đổi: người NVCTXH được xem như người tạo ra sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướng tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn.
Vai trò là người tư vấn: NVCTXH tham gia như người cung cấp thông tin tư vấn cho các thân chủ cần có những thông tin như thông tin về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho trẻ nhỏ hay người già. Người tham vấn: NVCTXH trợ giúp gia đình và cá nhân tự mình xem xét vấn đề, và tự thay đổi. Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, NVCTXH giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng. Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: NVCTXHcòn được xem như người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không có khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề.
Vai trò là người xử lý dữ liệu: Với vai trò này, NVCTXH nhiều khi phải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin trên cơ sở đó tư vấn cho thân chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn. Người quản lý hành chính: NVCTXH khi này thực hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng. Người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: NVCTXH đi vào cộng đồng để xác định 9 vấn đề của cộng đồng để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo dõi, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm thân chủ trong cộng đồng. Trong luận văn này, tôi muốn đưa ra công tác xã hội trong việc trợ giúp người nghiện ma túy tham gia chương trình cai nghiện dựa vào một số chỉ báo bao gồm: Quản lý ca; tham vấn tâm lý; kết nối nguồn lực; truyền thông, giáo dục; biện hộ và vận động chính sách.
Các thuyết được sử dụng 1. Thuyết nhu cầu Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950. Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần. – Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu.
Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao. Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục. Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người. Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được.