ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia,rừng không những cung cấp cho chúng ta gỗ và lâm sản ngoài gỗ mà còn góp phần phát triển kinh tế xã hội có tác dụng bảo vệ đất,điều hòa khí hậu,cân bằng hệ sinh thái…bảo vệ môi trƣờng sống cho nhân loại và trong tƣơng lai. Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, với sự thay đổi từ điều kiện khí hậu ,đến địa hình tạo nên một hệ sinh thái vô cùng phong phú và đa dạng , là nơi hội tụ nhiều loài động thực vật,tạo điều kiện cho sự đa dạng sinh vật học phát triển. Những năm gần đây ,rừng ở nƣớc ta ngày càng bị suy giảm ngay cả về diện tích lẫn trữ lƣợng.Bên cạnh đó dẫn đến nhiều loài động thực vật quý hiếm bị mất dần trong đó có rất nhiều loài mà con ngƣời chƣa hiểu hết về giá trị của chúng.Trƣớc thực trạng nhƣ vậy ,đòi hỏi các cơ quan nhà nƣớc đặc biệt là ngành lâm nghiệp cần có những chiến lƣợc nhằm: Bảo tồn và phát triển những loài quý hiếm góp phần bảo vệ tính đa dạng sinh học và giữ gìn lại đƣợc nguồn gen Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu với quy mô diện tích là 22.680,59 ha, thuộc địa bàn huyện Quan Hóa và Mƣờng Lát cách thành phố Thanh Hoá 130km về phía Tây Bắc, đƣợc biết đến bởi giá trị lớn về đa dạng sinh học. Trong Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu gồm hệ sinh thái núi đất là chính xen kẽ với hệ sinh thái núi đá vôi.
Từ sự khác nhau về hệ sinh thái kéo theo có sự khác nhau về thảm thực vật cũng nhƣ số lƣợng và chủng loại động, thực vật. Thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu thuộc khu hệ thực vật vùng Bắc Trung Bộ nhƣng có ảnh hƣởng của hệ thực vật vùng Tây Bắc cũng nhƣ hệ thực vật vùng núi phía Bắc Bộ. Theo kết quả Dự án điều tra lập danh lục động thực vật năm 2013 đã thống kê đƣợc 1.725 loài thực vật thuộc 696 chi, 170 họ thực vật thuộc 6 ngành. Trong đó có những họ thực vật chiếm ƣu thế nhƣ : Họ Cỏ (Poaceae), Họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae), Họ Cúc (Asteraceae)…Về bảo vệ nguồn gen, trong Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu qua điều tra sơ bộ có 28 loài cây quý hiếm đƣợc xếp trong 1 sách Đỏ của Việt Nam và trong Danh mục động thực vật rừng quý hiếm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP nhƣ: Trai Lý (Garcinia fagraeoides); Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus), Thông tre (Podocarpus neriifolius),.
những loài cây bản địa nhƣ: Sến mật (Madhuca Pasquieri); Vàng tâm Manglietia fordiana.) Oliv Từ thập niên 90 thế kỷ XX trở về trƣớc, trƣớc khi có Quyết định thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu thì nơi đây là một vùng có rất nhiều tài nguyên rừng, là vựa gỗ của cả khu vực phía Tây Thanh Hoá, song do ngƣời dân nơi đây và từ nơi khác đến đã vào rừng khai thác gỗ, săn bắn chim thú để phục vụ tại chỗ và thƣơng mại. Đặc biệt là từ khi đồng bào dân tộc Mông di cƣ tự do từ các tỉnh phía Bắc đến các khu rừng đầu nguồn của huyện Quan Hoá (cũ), với việc phá rừng làm nƣơng rẫy, săn bắn động vật hoang dã. đã tàn phá một cách khủng khiếp tài nguyên rừng nơi đây, làm suy giảm nghiêm trọng tính đa dạng sinh học vốn có. Một số loài cây bản địa nhƣ: Giổi, Vàng tâm, Phay sừng, Sến mật trƣớc đây có phân bố rộng về diện tích, số lƣợng nhiều tại khu bảo tồn nay bị thu hẹp lại.
Hiện tại, loài Vàng tâm còn ít, phân bố rải rác với mật độ thấp tại khu bảo tồn Pù Hu.Nếu không có các biện pháp bảo vệ và phát triển thì nguồn động,thực vật phong phú này sẽ ngày càng cạn kiệt ,không có khả năng phục hồi,làm mất đi nhiều nguồn tài nguyên quý hiếm và mất sự phong phú đa dạng sinh học. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện đề tài „Nghiên cứu thực trạng bảo tồn loài Vàng tâm Manglietia fordiana (Hemsl.) Oliv tại KBTTT Pù hu tỉnh Thanh hóa “ Tôi hy vọng với kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nhỏ của mình để làm giàu thêm tƣ liệu nghiên cứu,cùng một số đề xuất để giúp cho việc nắm rõ tình hình phân bố các loài để có biện pháp quản lý,bảo vệ tốt nguồn tài nguyên cũng nhƣ để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên này để phục vụ cho con ngƣời.Thông qua việc thực hiện đề tài, góp phần bảo vệ, bảo tồn tính đa dạng sinh học trong khu bảo tồn cũng nhƣ bảo tồn các loài cây bản địa trong khu vực; giúp cho cán bộ khu bảo tồn nâng cao kỹ năng điều tra sinh học, bảo tồn thiên nhiên. Nâng cao nhận thức của chính quyền và ngƣời dân địa phƣơng trong việc bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn thiên nhiên. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.Trên thế giới.1Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài cây Hiện tƣợng thành tầng là một trong những đặc trƣng cơ bản về cấu trúc hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ.
Phƣơng pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa (1933 - 1934) đề sƣớng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan, đến nay phƣơng pháp đó vẫn đƣợc sử dụng nhƣng nhƣợc điểm là chỉ minh hoạ đƣợc cách sắp xếp theo hƣớng thẳng đứng trong một diện tích có hạn. Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số dài kề nhau và đƣa lại một hình tƣợng về không gian 3 chiều. Sampion Gripíit (1948) khi nghiên cứu rừng tự nhiên ở Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới ở Tây Phi, đã kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp.W (1952) [31] phân rừng ờ Nigeria thành 6 tầng, tƣơng ứng với chiều cao là 6 - 12m, 12 - 18m, 18 - 24m, 24 - 30m, 30 - 36m, 36 - 42m, nhƣng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao. P (1971) [28] nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dƣới 600m ở Puecto Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả.N (1964) [1] đã nghiên cứu các vấn đề cơ sở sinh thái học nói chung và cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mƣa nói riêng.
Trong đó, tác giả đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mƣa nhiệt đởi. Theo tác giả, các phƣơng thức đều có hai mục tiêu rõ rệt: “ Mục tiêu thứ nhất là cải thiện rừng cây nguyên sinh vốn thƣờng hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và vô dụng để tạo không gian sống thích hợp cho các loài cây còn lại sinh trƣờng; mục tiêu thứ hai là tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo hoặc giải phóng lớp cây tái sinh sẵn có đang ở trạng thái ngủ để thay thế cho những cây đã lấy ra khỏi rừng trong khai thác hoặc chăm sóc, nuôi dƣỡng rừng sau đó”. Từ đó, tác giả đã đƣa ra tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý cài thiện rừng mƣa. 3 Catinot R (1965) [4] đã nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến,.W (1968) [31] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mƣa nhiệt đới về mặt hình thái.
Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mƣa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thƣờng có nhiều tầng, ông nhận định: "Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây".P (1971) [28] đã phân chia sinh thái học thực vật thành sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thề. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài. Trong đó chu kỳ sống và tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng đƣợc đặc biệt chú ý. Ngoài ra mối quan hệ giữa yếu tố sinh thái, sinh trƣờng có thể định hƣớng bằng các phƣơng pháp toán học thƣờng đƣợc mô phỏng, phản ánh các đặc điểm quy luật tƣơng quan phứctạp trong tự nhiên.
Kraft (1888) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [22] đã dựa vào khả năng sinh trƣởng, kích thƣớc và chất lƣợng của cây rừng để phân chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp.Các tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng ,đơn giản và dễ áp dụng,phản ánh đƣợc tình hình phân hóa cây rừng. Nhƣ vậy, nghiên cứu về tầng thứ theo chiều cao còn mang tính cơ giới, nên chƣa phản ánh đƣợc sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới. Việc nghiên cứu về cấu trúc rừng đã và đang đƣợc chuyển từ mô tả định tính sang định lƣợng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học.L (1971) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [10] đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đƣờng kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đƣờng kính ngang ngực, đƣờng kính tán bằng các dạng phân bố xác suất. Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết đƣợc những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng 4 với hoàn cảnh xung quanh, nên các phƣơng pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hƣớng này không đƣợc vận dụng trong đề tài.
Meyer (1934) (Theo Phạm Ngọc Giao,1995) [10] ,sử dụng phƣơng trình toán học có dạng đƣờng cong giảm liên tục để mô tả phân bố số cây theo cỡ đƣờng kính,đƣợc gọi là phƣơng trình Meyer hay hàm Meyer Naslund ( 1936-1937) đã xác lập luật phân bố Chiarlier kiểu A để nắn số cây theo cỡ đƣờng kính của các lâm phần rừng thuần loài đều tuổi ( theo Phạm Ngọc Giao,1995 [10] Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu dặc điềm hình thái của loài Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tƣơng đối chi tiết về đặc điềm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng. Ngoài ra, những nghiên cứu về các đặc tính sinh học và sinh thái học cá thể còn đƣợc thực hiện bới nhiều nhà khoa học khác nhƣ: I.2Nghiên cứu về loài Vàng Tâm 1.1 Tên gọi, phân loạị Vàng tâm có tên khoa học là Manglietia fordiana(Hemsl. (1891) hay còn có tên đồng nghĩa (synonym) là Magnolia fordiana (Hemsl.