Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu 5 z CHƢƠNG 1 CƠ Ở LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu v bạo hành trên thế giới Phụ nữ bị bạo hành là hiện tượng phổ biến và gây nhiều hậu quả tiêu cực vì vậy được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất lâu như Darwin, Sigmund Freud, A.Roger, Albert Bandura, Jan Volavka, Dale Peterson và Richard Wranghamin …Nghiên cứu về bạo hành trên thế giới tập trung vào các hướng nghiên cứu như về tỷ lệ bị bạo hành, các dạng bạo hành, ảnh hưởng của bạo hành, nguyên nhân của bạo hành, hậu quả của bạo hành v. Hƣớng nghiên cứu về nguyên nhân bạo hành Một số tác giả cho rằng yếu tố sinh học và cá nhân có ảnh hưởng đến cách cư xử cá nhân và tăng khả năng của họ trở thành nạn nhân hay thủ phạm của bạo lực, đó là đặc điểm nhân khẩu học (tuổi, giáo dục, thu nhập), di truyền, tổn thương não, rối loạn nhân cách, lạm dụng thuốc , và một lịch sử trải qua, chứng kiến, hoặc tham gia vào các hành vi bạo lực.
[21] Darwin là người đầu tiên đưa ra thuyết tiến hóa của loài người căn cứ trên lý thuyết chọn lọc tự nhiên. Khi đó nạn đói hoặc chiến tranh hoặc khi thức ăn trở nên khan hiếm, sự cạnh tranh xuất hiện và trong cuộc “đấu tranh sinh tồn chọn lọc tự nhiên sẽ tác động làm lợi cho kẻ mạnh”. Căn cứ trên thuyết khoa học tự nhiên, người ta có thể thấy trong suốt quá trình phát triển của loài người hung t nh đóng vai trò quan trọng trong sự sống còn của các thành viên. Trong thời nguyên thủy, con người hình thành t nh hung hãn để săn bắn, giết chết các con vật, tiêu diệt bộ tộc khác, giành bạn tình hoặc lãnh thổ khác… Tức là con người phát triển tính bạo lực trong điều kiện sống bị đe dọa.
Cá nhân, bộ tộc và bạo lực luôn di kèm với nhau để thỏa mãn bản năng sinh tồn [3, tr. 6 z Thuyết bản năng của Sigmund Freud (1920) và Konrad Loenz (1966) đã xem xét gây hấn ở con người như là một bản năng bẩm sinh. Thuyết này khẳng định hành vi gây hấn là cần thiết nhằm đảm bảo cho các cá thể tồn tại. Các các thể gây chiến với nhau để giành cơ hội tiếp cận với những nguồn tài nguyên có giá trị như lương thực, đất đai, địa vị xã hội.
Gây hấn là cần thiết trong nỗ lực đấu tranh để tồn tại và chọn lọc tự nhiên thuận tiện cho sự phát triển các bản năng hiếu chiến của con người.Freud đưa ra khái niệm bản năng chết và được hiểu là một khát vọng vô thức, tiềm ẩn một mong muốn thoát ra khỏi những lo lắng, sự thất vọng ở bản thân, sự căng thẳng của cuộc sống. Bản năng chết được thể hiện ra ở sự hằn học với chính mình, gây hấn và tự xâm k ch để đi tới sự hủy diệt bản thân, sau đó nhanh chóng hướng vào người khác và muốn hủy diệt người khác. Đó ch nh là bản năng gây hấn, bản năng xâm chiếm và tiêu diệt, đôi khi được phóng chiếu sang người khác. Freud con người còn tồn tại bản năng sống, đó là nhu cầu được tình dục, nhu cầu được ăn, ở, được yêu thương, được an toàn.Trong khi bản năng sống thúc dẩy con người bảo vệ và tái tạo cuộc sống thì bản năng chết lại mang tính phá bỏ, hủy hoại, và gây hấn bắt nguồn chính từ các xung động bản năng từ ước muốn sống hay chết mãnh liệt.
Dựa trên những phát hiện quan trọng về bản nắng sống và bản năng chết, Sigmund Freud đã suy đoán rằng hành vi bạo lực của con người xuất phát từ sự đổi hướng năng lượng của bản năng chết nguyên thủy của cá nhân sang người khác. Tiếp cận hành vi gây hấn từ góc độ tập nhiễm xã hội cho rằng hành vi gây hấn hình thành là do có sự tiếp thu các mẫu ứng xử sai lệch. Thuyết tập nhiễm xã hội nhấn mạnh gây hấn là kết quả của sự bắt chước và quan sát xã hội. Theo Bandura (1973), bất chấp vai trò chính của các nhân tố di truyền, thái độ hung hăng của con người bị ảnh hưởng của việc học hỏi của chính họ.
Theo Bandurra phần lớn các ứng xử của con người có được là do sự bắt chước. Nếu bố mẹ, thầy cô giáo tỏ ra hung hãn thì trê sẽ mau chóng bắt chước 7 z và thấy hành vi đó là bình thường. Ngược lại, nếu trẻ bị phạt một cách đúng mức khi có ứng xử thô bạo thì tần số các hành vi gây hấn của chúng sẽ giảm dần. Bandura cũng đề xuất một học thuyết nghiên cứu xã hội liên quan đến tính hiếu chiến.
Con người học về hiếu chiến không chỉ từng trải qua và chịu hậu quả mà nó gây ra mà còn bằng việc quan sát người khác, con người lĩnh hội được nhiều điều về tính hiếu chiến thông qua việc xem người khác hành động Như vậy lý thuyết học tập xã hội của Bandura tập trung vào học tập qua quan sát và bắt chước người khác. Trẻ em sẽ dễ dàng học được bạo lực do tiếp xúc với bạo lực [3]. Các nhà tâm lý học cho rằng gây hấn bắt nguồn từ sự đáp ứng lại với hẫng hụt và đau đớn, bắt nguồn từ động cơ chống đối. Các lý thuyết về gây hấn chỉ ra nguồn gốc của gây hấn là những điều kiện bên ngoài kích thích động cơ gây hại hay làm tổn thương đến người khác.
Những điều kiện bên ngoài, đặc biệt là sự thất bại sẽ tạo nên một động cơ mạnh mẽ bên trong với nhu cầu muốn làm tổn hại người khác. Động cơ gây hấn sẽ dẫn đến những hành động gây hấn. Các hành vi gây hấn được thúc đẩy từ bên trong bởi những động lực gây hại hay làm tổn thương người khác và có nguồn gốc từ những sự kiện chống đối bên ngoài. Cuốn sách “Sự thất vọng và sự gây hấn” của John Dollard và dồng nghiệp (1939) đề xuất rằng sự gây hấn luôn luôn là kết quả của sự thất vọng và sự thất vọng luôn luôn dẫn tới một số hình thức gây hấn.
Lý thuyết về hành vi còn cho rằng tất cả các hành vi của con người, bao gồm cả hành vi bạo lực được học thông qua sự tương tác với môi trường xã hội. Các nhà lý thuyết về hành vi đã lập luận rằng bốn yếu tố sau đây giúp sản xuất bạo lực: thứ nhất là một sự kiện căng thẳng hoặc kích thích - như một mối đe dọa, thách thức hoặc hành hung - đó làm tăng k ch th ch, thứ hai là kỹ năng t ch cực hoặc kỹ thuật học được thông qua quan sát người khác, thứ ba là một niềm tin rằng sự xâm lược hoặc bạo lực sẽ được thưởng và thứ tư là một 8 z hệ thống giá trị mà dung túng hành vi bạo lực trong bối cảnh xã hội nhất định. Kiểm tra thực nghiệm đầu tiên của bốn nguyên tắc đã được hứa hẹn (Bartol, 2002). Kết quả là, lý thuyết về hành vi đóng góp trực tiếp vào sự phát triển của các lý thuyết xã hội học của sự lệch lạc (lý thuyết hiệp hội khác biệt, lý thuyết tiểu văn hóa, lý thuyết trung hòa, vv.
Những lý thuyết này, một trong những quan trọng nhất và có ảnh hưởng của tất cả [40]. Lý thuyết về thất vọng – gây hấn của Dollard và cộng sự cho rằng tâm trạng thất vọng làm người ta sẵn sàng gây hấn, vì nó chính là trở ngại đạt được mục đ ch và gây hấn do sự thất vọng tạo ra và nếu như một người không thể có cái mà họ muốn thì họ sẽ gây gổ. Nếu sự thất vọng thôi thúc tiềm ẩn và được lặp đi lặp lại nhiều lần thì đến lúc nào đó sẽ bùng lên, dẫn đến hành vi gây hấn mạnh mẽ. Tâm trạng thất vọng tạo nên động cơ gây hấn.
Mô hình thất vọng – gây hấn giúp con người học cách kiềm chế trả thù trực tiếp khi bị ai đó phản đối hoặc ngược đãi, thay vào đó di chuyển thái độ thù địch sang những mục tiêu được xã hội chấp nhân. Dollard và đồng nghiệp của ông cho rằng động cơ gây gổ khi thất vọng là một biểu hiện thuộc về sinh lý. Con người khi thất vọng có xu hướng gây hấn và nó thúc đẩy làm tổn thương đối phương, năng lượng gây hấn xuất hiện cần được giải thoát ra ngoài, chống lại nguồn gây hấn đó. Thất vọng được định nghĩa như sự cản trở hay ngăn chặn một số hành động mà định hướng đến mục tiêu.
John Dollard và một vài đồng nghiệp của ông ở Yull đã đi tới đề xuất rằng “Bạo lực luôn là kết quả của sự thất vọng” và “sự thất vọng luôn luôn dẫn đến hình thức bạo lực”. Dollard và các đồng nghiệp của ông cho rằng động cơ giành được mục đ ch càng mạnh mẽ thì sự thất vọng càng tăng lên. Sự giận dữ và bạo lực càng gia tăng khi chúng ta tưởng tượng về những gì nhận được nhưng lại bị ngăn trở vào phút chót. Theo ông sự thất vọng lặp đi lặp lại nhiều lần thì một lúc nào đó nó sẽ bùng lên dẫn đến những hành bi bạo lực mạnh mẽ.
Tuy nhiên tác giả Leonard Berkowitz đã cho rằng lý thuyết thất vọng – gây hấn đã cường điệu mối quan 9 z hệ giữa tâm trạng thất vọng và gây hấn, theo ông tâm trạng thất vọng có thể tạo nên sự tức giận, cảm xúc dễ dẫn đến gây hấn. Sự tức giận sẽ tăng lên khi ai đó làm chúng ta thất bại có thể khiến chúng ta hành động theo hướng khác [3]. Lý thuyết căn bản của Girard cho rằng hành vi của con người dựa trên sự bắt chước. Ông mô tả tình huống mà hai cá nhân mong muốn cùng một đối tượng, vì cả hai cùng nỗ lực để có đối tượng này, hành vi của họ sẽ trở thành xung đột, vì chỉ có một đối tượng nhưng lại có hai người muốn có nó.
“Bạo lực được tạo ra bởi quá trình này, hay đúng hơn bạo lực là quá trình tự nó khi hai hoặc nhiều đối tác cố gắng ngăn chăn một số khác từ các đối tượng chiếm đoạt, tất cả họ dều mong muốn thông qua vật lý hoặc các phương tiện khác’’ [39]. Lý thuyết của Girard có nhiều điểm tương đồng với lý thuyết học tập xã hội con người học bằng cách quan sát, hoặc bắt chước những người khác.