Tổng quan nghiên cứu

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là một trong những gánh nặng y tế cộng đồng hàng đầu thế giới, cướp đi sinh mạng của khoảng 4,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi mỗi năm, trong đó viêm phổi chiếm tỷ lệ áp đảo. Theo báo cáo từ Tổ chức Y tế Thế giới, toàn cầu ghi nhận khoảng 2 tỷ lượt trẻ mắc bệnh này mỗi năm, trung bình mỗi trẻ dưới 5 tuổi mắc từ 5 đến 8 đợt viêm đường hô hấp thường niên. Tại Việt Nam, viêm phổi chiếm tới 33% tổng số ca tử vong ở trẻ em, đồng thời chiếm khoảng 40% đến 60% số ca tử vong điều trị tại bệnh viện ở lứa tuổi dưới 1 tuổi.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ thực tế chăm sóc tại gia đình: trẻ chỉ có thể phục hồi nhanh chóng và tránh được các biến chứng suy hô hấp nguy kịch nếu người trực tiếp chăm sóc, đặc biệt là người mẹ, có đủ kiến thức phát hiện sớm dấu hiệu nguy hiểm và thực hành xử trí đúng đắn. Tại tỉnh Quảng Ngãi, một địa phương có 83,7% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn với điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn và khí hậu nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt, tỷ lệ trẻ nhập viện vì viêm phế quản và viêm phổi luôn ở mức cao.

Đề tài được triển khai với mục tiêu tổng quát là đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và xác định các yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc bệnh đang điều trị tại khoa Nhi hô hấp, Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ngãi. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: đo lường tỷ lệ đạt chuẩn về kiến thức, thái độ, thực hành; phân tích mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học xã hội với hành vi chăm sóc; và xác định mối tương quan giữa ba thành tố kiến thức, thái độ, thực hành. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2020 đến tháng 9/2021, mang lại cơ sở thực chứng giá trị giúp đội ngũ điều dưỡng thiết kế các chương trình giáo dục sức khỏe chuẩn hóa, hướng đến mục tiêu giảm 20% đến 30% tỷ lệ tái nhập viện không đáng có.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng Mô hình Nâng cao Sức khỏe của Nola Pender làm khung lý thuyết định hướng chính. Mô hình này làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa ba cấu phần: đặc điểm kinh nghiệm cá nhân của bà mẹ (tuổi tác, học vấn, nơi cư trú, số con), nhận thức hành vi và ảnh hưởng tâm lý (nhận thức lợi ích, rào cản chi phí, thời gian, sự hỗ trợ từ nhân viên y tế), và kết quả hành vi thực tế (thực hành phòng bệnh và chăm sóc trẻ). Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp Lý thuyết Chăm sóc Điều dưỡng lâm sàng để xác định rõ chức năng giáo dục sức khỏe của người điều dưỡng theo Thông tư 07/2011/TT-BYT.

Các khái niệm chuyên môn cốt lõi được định nghĩa chuẩn xác theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới và Bộ Y tế:

  • Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính: Tình trạng nhiễm khuẩn xảy ra tại bất kỳ vị trí nào trên đường thở với thời gian diễn tiến dưới 30 ngày (riêng viêm tai giữa cấp dưới 14 ngày).
  • Phân loại giải phẫu: Lấy nắp thanh quản làm ranh giới giải phẫu học; đường hô hấp trên gồm mũi, họng, tai giữa, xoang (chiếm khoảng 70% đến 80% trường hợp lâm sàng); đường hô hấp dưới gồm thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản và nhu mô phổi.
  • Phân loại mức độ lâm sàng: Chia thành 4 cấp độ can thiệp gồm thể nhẹ (chăm sóc tại nhà không dùng kháng sinh), thể vừa (viêm phổi điều trị kháng sinh tại nhà hoặc trạm y tế), thể nặng (viêm phổi nặng có rút lõm lồng ngực cần nhập viện), và thể rất nặng (kèm dấu hiệu nguy kịch như bỏ bú, co giật, thở rít khi nằm yên, ngủ li bì khó đánh thức cần cấp cứu khẩn cấp).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang mô tả có phân tích. Dữ liệu được thu thập trực tiếp từ 172 bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị nội trú tại Khoa Nhi hô hấp, Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn từ tháng 11/2020 đến tháng 6/2021. Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (hệ số Z bằng 1,96), tỷ lệ tham chiếu p bằng 65,6%, sai số cho phép d bằng 0,1, và cộng thêm 5% dự phòng phiếu không hợp lệ để đạt con số chính xác 172 đối tượng.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ được áp dụng cho tất cả các bà mẹ đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu: trực tiếp chăm sóc con, có con dưới 5 tuổi được chẩn đoán xác định bệnh, và tự nguyện ký biên bản đồng thuận tham gia theo phê duyệt đạo đức số 872/HĐĐĐ-ĐHYD của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.

Công cụ thu thập dữ liệu là bộ câu hỏi cấu trúc gồm 4 phần với 48 biến quan sát, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ. Bộ công cụ đã qua thử nghiệm lâm sàng trên 30 đối tượng và lấy ý kiến đồng thuận từ 5 chuyên gia đầu ngành. Hệ số tin cậy nội hàm Cronbach's Alpha đạt chuẩn cao: Phần Kiến thức đạt 0,882; Phần Thái độ đạt 0,756; và Phần Thực hành đạt 0,690. Lý do lựa chọn phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu là nhằm đảm bảo tính chuẩn hóa trong thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, trung bình, độ lệch chuẩn) và thống kê suy luận (kiểm định độc lập t-test, phân tích phương sai một yếu tố ANOVA, hệ số tương quan tuyến tính Pearson) với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu từ 172 bà mẹ mang lại các chỉ số dịch tễ học và lâm sàng quan trọng:

  • Đặc điểm nhân khẩu học: Độ tuổi trung bình của các bà mẹ là 29,2 ± 5,41 tuổi (dao động từ 18 đến 48 tuổi), trong đó nhóm tuổi dưới hoặc bằng 30 tuổi chiếm ưu thế với 60,5%. Về địa bàn sinh sống, 66,9% bà mẹ cư trú tại khu vực các huyện nông thôn, trong khi 33,1% sống tại thành phố Quảng Ngãi. Trình độ học vấn phổ biến nhất là tốt nghiệp trung học cơ sở (30,2%), tiếp đến là cao đẳng (17,4%) và trung học phổ thông (16,9%), nhóm sau đại học chiếm 1,7%. Về cấu trúc gia đình, 62,2% bà mẹ nuôi từ 2 con trở lên và 94,2% cùng chồng chăm sóc trẻ. Có 99,4% đối tượng là người trực tiếp chăm sóc chính khi trẻ mắc bệnh.

  • Hành vi tiếp cận y tế và nguồn thông tin: Khi trẻ có dấu hiệu mắc bệnh đường hô hấp, 96,0% bà mẹ chọn đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa, 3,0% tự ý mua thuốc điều trị, và chỉ 1,0% để trẻ tự khỏi không can thiệp. Nguồn tin tức phổ biến nhất được ghi nhận qua kênh truyền hình, sách báo và mạng xã hội (51,2%), nhân viên y tế chiếm 25,0%, và truyền miệng qua người thân, bạn bè chiếm 19,7%.

  • Đánh giá kiến thức bệnh học: Có 80,3% bà mẹ nhận biết đúng bệnh thường xảy ra ở lứa tuổi dưới 5 tuổi và 80,2% nhận thức rõ biến chứng nguy hiểm nếu không xử trí kịp thời. Về yếu tố nguy cơ, 93,6% nhận biết thời tiết chuyển lạnh là tác nhân hàng đầu, 86,0% biết rõ khói bụi và khói thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh, nhưng chỉ 70,3% nhận thức được vai trò của tình trạng suy dinh dưỡng. Đối với dấu hiệu nhận biết bệnh lý nặng, 69,8% bà mẹ biết dấu hiệu thở nhanh là biểu hiện viêm phổi, 61,1% nhận biết thở rút lõm lồng ngực cảnh báo viêm phổi nặng, và 80,8% nhận diện được dấu hiệu ngủ li bì khó đánh thức là tình trạng nguy kịch.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát được tổng hợp chi tiết qua 19 bảng số liệu và 3 biểu đồ phân tích trong toàn văn luận văn, phản ánh bức tranh đa chiều về năng lực chăm sóc sức khỏe ban đầu của phụ huynh khu vực miền Trung. Tỷ lệ 96,0% bà mẹ đưa trẻ đi khám tại cơ sở y tế trong nghiên cứu này cao hơn đáng kể so với mức 70,6% tại Bệnh viện Nhi tỉnh Quảng Nam và 71,6% tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Hồi. Điều này chứng minh nhận thức tiếp cận dịch vụ y tế chính thống của người dân đã có bước chuyển biến tích cực sau nhiều năm triển khai các chương trình mục tiêu y tế quốc gia.

Tuy nhiên, khoảng trống tri thức vẫn bộc lộ rõ ở khả năng phân định mức độ nghiêm trọng của bệnh. Mặc dù 80,2% bà mẹ nhận biết được các triệu chứng chung (ho, sốt, sổ mũi), nhưng chỉ có 61,1% đến 69,8% phân biệt được hai tiêu chí then chốt để phân loại mức độ viêm phổi là thở nhanh và thở rút lõm lồng ngực. Tỷ lệ này tương đồng với các nghiên cứu trong nước khi mức độ hiểu biết đúng về triệu chứng rút lõm lồng ngực chỉ dao động khoảng 40% đến 65%.

Nguyên nhân chính xuất phát từ việc hơn một nửa số bà mẹ (51,2%) tiếp nhận thông tin thụ động từ mạng xã hội và truyền thông đại chúng vốn thiếu tính tương tác thực hành, trong khi kênh hướng dẫn trực tiếp từ nhân viên y tế mới chỉ đạt 25,0%. Phân tích kiểm định ANOVA và t-test trong luận văn chỉ ra rằng trình độ học vấn, thu nhập gia đình (80,2% trên 4 triệu đồng/tháng), và số lần được điều dưỡng tư vấn có mối liên quan thuận chiều với điểm số thực hành đúng (p < 0,05). Phân tích tương quan Pearson chứng minh mối liên hệ tỷ lệ thuận có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức, thái độ và hành vi thực hành của người mẹ, khẳng định rằng nâng cao kiến thức là chìa khóa then chốt để thay đổi toàn diện hành vi chăm sóc trẻ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp cụ thể:

  1. Chuẩn hóa quy trình tư vấn giáo dục sức khỏe tại khoa Nhi hô hấp: Giao nhiệm vụ cho đội ngũ điều dưỡng viên trực tiếp hướng dẫn kỹ năng đếm nhịp thở, nhận diện rút lõm lồng ngực và thực hành vệ sinh mũi bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9% cho 100% bà mẹ trước khi xuất viện. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ bà mẹ nhận biết chính xác dấu hiệu nguy kịch từ 61,1% lên trên 90% trong giai đoạn từ quý 1/2022 đến cuối năm 2023.

  2. Đổi mới tài liệu và phương thức truyền thông trực quan: Thiết kế infographic, sổ tay bỏ túi và video ngắn phát sóng tại sảnh chờ bệnh viện do Ban Truyền thông - Giáo dục sức khỏe Bệnh viện Sản - Nhi Quảng Ngãi chủ trì. Mục tiêu giảm tỷ lệ bà mẹ tự ý mua thuốc kháng sinh tại nhà từ 3,0% xuống dưới 0,5% trong vòng 12 tháng triển khai.

  3. Tăng cường mạng lưới y tế cơ sở và truyền thông cộng đồng: Chỉ đạo các Trạm Y tế xã, phường phối hợp với Hội Phụ nữ địa phương tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề định kỳ hàng quý về phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cho phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ dưới 5 tuổi, ưu tiên 66,9% đối tượng thuộc khu vực nông thôn, hoàn thành bao phủ 100% địa bàn xã trong vòng 2 năm.

  4. Xây dựng chương trình đào tạo liên tục về kỹ năng giao tiếp - tư vấn cho điều dưỡng: Phòng Điều dưỡng bệnh viện phối hợp với các trường đại học y dược tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng truyền thông nâng cao sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần cho khoảng 50 đến 100 điều dưỡng viên nhi khoa, nhằm đảm bảo cung cấp nguồn thông tin y khoa chính xác, dễ hiểu cho thân nhân bệnh nhi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn phong phú cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Điều dưỡng viên và nhân viên y tế nhi khoa: Nắm bắt chính xác các lỗ hổng kiến thức phổ biến của thân nhân người bệnh để tối ưu hóa quy trình tư vấn giáo dục sức khỏe tại giường bệnh và phòng khám ngoại trú.

  • Cán bộ quản lý y tế và chuyên viên y tế công cộng: Sử dụng các số liệu thực chứng dịch tễ tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ để hoạch định chính sách phân bổ ngân sách, xây dựng các chương trình mục tiêu phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cấp tỉnh và cấp khu vực.

  • Giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên ngành Điều dưỡng/Y khoa: Tham khảo mô hình nghiên cứu cắt ngang mô tả chuẩn mực, cách vận dụng Mô hình Nâng cao Sức khỏe của Nola Pender vào đề tài lâm sàng, cùng phương pháp kiểm định thang đo Likert và phân tích dữ liệu SPSS.

  • Các bậc phụ huynh và người chăm sóc trẻ nhỏ: Tiếp cận hệ thống kiến thức khoa học về cách nhận biết dấu hiệu thở nhanh, cách làm thông thoáng đường thở, chế độ dinh dưỡng đầy đủ chất khi con ốm và các biện pháp giữ ấm phòng bệnh hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi được phân loại như thế nào? Bệnh được phân loại theo giải phẫu lấy nắp thanh quản làm ranh giới (đường hô hấp trên gồm viêm mũi, họng, tai giữa; đường hô hấp dưới gồm viêm thanh quản, phế quản, viêm phổi). Về mức độ lâm sàng, bệnh chia làm 4 thể: thể nhẹ (không viêm phổi), thể vừa (viêm phổi), thể nặng (viêm phổi nặng có rút lõm lồng ngực) và thể rất nặng (kèm các dấu hiệu nguy kịch đe dọa tính mạng).

  2. Tiêu chuẩn đánh giá nhịp thở nhanh ở trẻ em theo từng lứa tuổi là gì? Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới, tiêu chuẩn thở nhanh khi trẻ nằm yên được xác định gồm: trẻ dưới 2 tháng tuổi có nhịp thở từ 60 lần/phút trở lên; trẻ từ 2 tháng đến dưới 12 tháng tuổi có nhịp thở từ 50 lần/phút trở lên; và trẻ từ 1 tuổi đến dưới 5 tuổi có nhịp thở từ 40 lần/phút trở lên.

  3. Dấu hiệu thở rút lõm lồng ngực có ý nghĩa lâm sàng gì và nhận biết ra sao? Thở rút lõm lồng ngực là hiện tượng phần dưới lồng ngực (ranh giới giữa ngực và bụng) lõm sâu vào khi trẻ hít vào lúc nằm yên. Đây là dấu hiệu cảnh báo trẻ đã bị viêm phổi nặng, chức năng hô hấp suy giảm rõ rệt và cần được đưa ngay đến bệnh viện để điều trị kịp thời bằng kháng sinh đường tiêm hoặc hỗ trợ hô hấp.

  4. Những dấu hiệu nguy kịch nào đòi hỏi phải đưa trẻ đi cấp cứu ngay lập tức? Phụ huynh cần đưa trẻ nhập viện cấp cứu ngay khi phát hiện một trong các triệu chứng nguy kịch: trẻ không thể uống nước hoặc bỏ bú hoàn toàn, xuất hiện các cơn co giật, ngủ li bì khó đánh thức, nghe thấy tiếng thở rít thô ráp khi trẻ nằm yên, hoặc trẻ có biểu hiện suy dinh dưỡng nặng kết hợp sốt cao không hạ.

  5. Cần chăm sóc dinh dưỡng và vệ sinh đường thở cho trẻ tại nhà như thế nào? Gia đình cần duy trì cho trẻ bú mẹ nhiều lần hơn hoặc chia nhỏ các bữa ăn giàu dưỡng chất, không kiêng khem tôm, cá, dầu mỡ. Tăng cường bổ sung nước ấm hoặc nước trái cây để làm dịu họng và loãng đờm. Vệ sinh thông thoáng mũi bằng bấc sâu kèn thấm sạch và nhỏ dung dịch nước muối sinh lý 0,9% từ 3 đến 4 lần mỗi ngày.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của 172 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc bệnh điều trị tại Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ngãi.
  • Ghi nhận tỷ lệ tích cực với 96,0% bà mẹ lựa chọn đưa trẻ đi khám tại cơ sở y tế khi xuất hiện triệu chứng bệnh và 80,3% nhận thức rõ về mức độ nguy hiểm của bệnh đường hô hấp.
  • Chỉ ra khoảng trống chuyên môn khi tỷ lệ nhận biết đúng dấu hiệu viêm phổi nặng (thở rút lõm lồng ngực) mới chỉ đạt 61,1% và kênh tiếp cận tư vấn từ điều dưỡng viên mới chiếm 25,0%.
  • Khẳng định mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn, thu nhập và sự tư vấn của nhân viên y tế đối với năng lực thực hành chăm sóc trẻ của người mẹ.
  • Bước tiếp theo cần triển khai rộng rãi mô hình tư vấn giáo dục sức khỏe tại giường bệnh trong giai đoạn 2022-2023 nhằm hạ thấp tỷ lệ biến chứng nặng ở trẻ nhỏ.

Để nâng cao sức khỏe cộng đồng và bảo vệ đường hô hấp cho trẻ thơ, các cơ sở y tế cùng các bậc phụ huynh hãy chủ động cập nhật kiến thức, tham khảo chi tiết toàn văn luận văn và phối hợp chặt chẽ với đội ngũ điều dưỡng viên trong công tác chăm sóc bệnh nhi hàng ngày!