Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Tổng quan về bệnh Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 1.Khái niệm về Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều này bao gồm nhiễm khuẩn xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trong hệ hô hấp [98]. Hệ hô hấp bao gồm: mũi, tai, họng, thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản, phổi. Thời gian trẻ mắc bệnh không kéo dài quá 30 ngày, ngoại trừ bệnh viêm tai giữa cấp là 14 ngày [22], [91].Dịch tễ học Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 1.Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính đối với trẻ em trên thế giới Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe cộng đồng kéo dài, lan rộng ở các nước đang phát triển và ở cả các nước phát triển [97], [102]. Trên thế giới, NKHHCT được xem là bệnh gây ra các trường hợp mắc và tử vong nhiều nhất ở các bệnh nhiễm khuẩn đối với trẻ em dưới 5 tuổi [8], [37].
Ở khu vực Châu Á, nghiên cứu của tác giả Heping Wang và cộng sự tại Thâm Quyến - Trung Quốc trên 31000 trẻ nhập viện liên quan đến NKHHCT, độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất ở đây là ≤ 3 tuổi (82,97%) [97]. Còn ở khu vực Châu Âu, theo kết quả nghiên cứu năm 2018 của tác giả Kurskaya Olga và cộng sự tại thành phố Novosibirsk nước Nga trên 1560 trẻ được chẩn đoán NHHHCT, tỷ lệ trẻ ở độ tuổi ≤ 3 vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất là 43,2% [74]. Như vậy nhóm tuổi thường chịu ảnh hưởng nhiều nhất về NKHHCT nằm trong nhóm dưới 5 tuổi. Theo số liệu được thống kê của WHO, trên toàn cầu được ước tính mỗi năm có khoảng 2 tỷ trẻ em mắc NKHHCT, trong đó sẽ có tới 40 triệu trẻ được chẩn đoán là viêm phổi; cũng theo số liệu báo cáo của WHO có khoảng 15 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong, trong đó gần 4,3 triệu trẻ tử vong được chẩn đoán là viêm phổi.
Như vậy mỗi ngày ước tính có tới khoảng 10000 trẻ em tử vong do. viêm phổi, trong đó đại đa số các trường hợp tử vong là ở các nước đang phát triển [8], [37]. Và những tỷ lệ này đặc biệt có thể còn cao hơn đối với các nước phát triển ví dụ như là ở Trung Quốc [97]. Trong nghiên cứu của tác giả Williams và cộng sự, ước tính có đến 1,9 triệu trẻ dưới 5 tuổi đã tử vong do NKHHCT vào năm 2000, 70% số trẻ em sinh sống ở Châu Phi và Đông Nam Á [91], [104].
1 Tình hình NKHHCT ở một số nước Châu Á [94],[103] Nước Trẻ < 5 tuổi tử vong do mắc Trẻ < 5 tuổi mắc NKHHCT (%) NKHHCT được chăm sóc y tế (%) China 12% Không có dữ liệu Lao people’s 18% 54% Democratic Republic Nepal 15% 85% Indonesia 15% 75% Iran 13% 76% “Nguồn: Tổ chức Y tế Thế Giới, 2019” [94],[103] Tại Hoa Kỳ, họ đã phát hiện ra rằng chẩn đoán NKHHCT (bao gồm luôn cả chẩn đoán viêm tai giữa) chiếm tỷ lệ cao nhất là 35% của nhóm trẻ em dưới 5 tuổi đã tìm kiếm đến các cơ sở khám cho trẻ nhi. Đây được xem là các chẩn đoán phổ biến nhất ở nước này [12]. Ở Châu Phi, mắc bệnh viêm phổi chiếm 25 - 33% trẻ nhập viện [75], [81], [100]. Nghiên cứu của tác giả Okoko và các cộng sự năm 2017 về tình trạng “Viêm phổi của trẻ dưới 5 tuổi tại Cộng hòa Dân chủ Congo” cho biết ở đây tỷ lệ viêm.
phổi không được đề cập đến, cũng không có một chương trình hay hệ thống để giám sát tình hình dịch tễ các bệnh liên quan đến đường hô hấp của trẻ em [84]. Theo thống kê trong báo cáo của Nhóm ước tính tử vong trẻ em của Liên Hiệp quốc (UN IGME) năm 2016, “Dẫn đầu toàn cầu về nguyên nhân tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi bao gồm: biến chứng sinh non (18%), viêm phổi (16%), dị tật bẩm sinh (9%), tiêu chảy (8%), nhiễm trùng huyết sơ sinh (7%) và sốt rét (5%)” [76]. Ước tính viêm phổi giết chết nhiều trẻ em hơn bất kì một căn bệnh nào khác - nhiều hơn cả ba bệnh cộng lại gồm AIDS, sốt rét và sởi [98]. Có 1400 trường hợp trẻ được chẩn đoán viêm phổi trong 100000 trẻ em ở trên toàn cầu, tỷ lệ mắc cao nhất ở đây là Nam Á (có 2500 trẻ mắc bệnh trên 100000 trẻ em) và Tây – Trung Phi (có 1620 trẻ mắc bệnh trên 100000 trẻ em) [96].
Trong một cuộc điều tra hành vi tìm kiếm sự chăm sóc của các bà mẹ có con mắc NKHHCT ở một thành phố phía Tây Nepal vào năm 2006. Kết quả thu được sau điều tra bằng câu hỏi cho 292 bà mẹ, 26,4% các bà mẹ có sự chăm sóc phù hợp trong thời gian con họ mắc bệnh, 56,8% các bà mẹ tìm kiếm đến sự chăm sóc đúng lúc, và chỉ có 11,3% bà mẹ có cả sự chăm sóc đúng lúc và phù hợp với tình trạng bệnh của trẻ [92]. NKHHCT là bệnh nhiễm khuẩn có thể hạn chế được việc tử vong của trẻ dưới 5 tuổi nếu như chúng ta có các biện pháp phòng ngừa tốt. Do vậy, việc đẩy mạnh GDSK về NKHHCT là một điều hết sức cần thiết, nhất là đối với các bà mẹ còn trẻ tuổi chưa có kinh nghiệm.
Có một vài nghiên cứu trước đó đã đưa ra được hiệu quả của việc GDSK nâng cao kiến thức của các bà mẹ, từ đó làm giảm đi tỷ lệ trẻ em mắc và tử vong do NKHHCT gây ra [64], [70].Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính đối với trẻ em tại Việt Nam Cũng như ở các nước khác trên thế giới, ở Việt Nam NKHHCT là một nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng về bệnh tật và là lý do gây tử vong đứng thứ 3 cho nhóm trẻ em dưới 5 tuổi [11], [21], theo số liệu thống kê được tỷ lệ trẻ em. dưới 5 tuổi tử vong tại bệnh viện chiếm 40-60%, trong đó trẻ dưới 1 tuổi là chủ yếu [25]. Thống kê ở những bệnh viện lớn tại Hà Nội và Hồ Chí Minh, nhận thấy rằng số trẻ được đưa đến khám liên quan đến các bệnh lý hô hấp nhiều gấp 4,4 lần so với các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa [31]. Số trẻ em mắc NKHHCT còn tùy thuộc vào sự thay đổi các mùa trong năm.
Trẻ ở vùng nhiệt đới dễ mắc bệnh vào tháng trong mùa mưa, trẻ ở vùng ôn đới thì sẽ mắc bệnh cao vào các tháng trong mùa đông, có đến 30 - 60% trẻ em được cha mẹ đưa đến khám và được điều trị do mắc NKHHCT [98]. Tình hình hiện tại, các cơ sở y tế khám và điều trị cho trẻ em từ tuyến huyện trở lên đều gặp tình trạng quá tải số lượng trẻ được chẩn đoán các bệnh về NKHHCT [8]. Theo số liệu được thống kê của Chương trình Phòng chống NKHHCT cấp Quốc gia, thì cứ 100 trẻ được đưa đến khám tại các cơ sở y tế thì có tới 26 trẻ mắc NKHHCT [12]. Ở Việt Nam, viêm phổi là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng tử vong ở trẻ cao nhất.
Theo số liệu tìm được của tác giả Nguyễn Đình Hường trẻ tử vong do viêm phổi là 2,8%, chiếm đến 33% tử vong chung ở nước ta [30]. Trong số các trẻ chết do bệnh viêm phổi thì có 52% trẻ được nhận sự chăm sóc trước khi trẻ tử vong [8]. Nguyên nhân dẫn đến việc trẻ trước khi tử vong mà không được chăm sóc tại CSYT cao là do các bà mẹ trực tiếp chăm sóc trẻ thiếu kiến thức về bệnh, không nhận biết được các dấu hiệu nào là nguy hiểm, hoặc khi trẻ đã nhiễm bệnh mà không được điều trị bằng cách đúng đắn, đến khi bệnh quá nặng mới vội vàng đi đến bệnh viện [16], [51]. Đến năm 2004, tỷ lệ bệnh nhân được chẩn đoán là viêm phổi đã chiếm tỷ lệ mắc cao nhất lên đến 45% trong tổng số các bệnh lý hô hấp khác [30].
Kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Thị Kiệm năm 2013 về mô hình NKHHCT ở trẻ dưới 1 tuổi tại Thanh Hà cho thấy tỷ lệ 3 bệnh trẻ được chẩn đoán nhiều nhất. là viêm phổi, viêm họng và cảm cúm. Viêm phổi chiếm tỷ lệ cao nhất (5,1%), tiếp sau đó là viêm họng (3,6%) và cuối cùng là cảm cúm (2,5%) [29]. Theo nghiên cứu của Đào Minh Tuấn liên quan đến chủ đề thực trạng khám và điều trị NKHHCT tại khoa hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương, trong năm có 302957 tổng trẻ đến khám bệnh nói chung thì có 169588 trẻ đến khám vì các nguyên nhân liên quan NKHHCT (có nghĩa là chiếm 55,97%) [41].
Trong nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết về đặc điểm dịch tễ NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi tại tỉnh Bắc Kạn, kết quả dân tộc H’Mông có số trẻ mắc bệnh cao nhất (26,3%), tiếp đến là dân tộc Dao (9,9%), dân tộc Nùng (9,6%), dân tộc Tày (7,0%), và tỷ lệ thấp nhất là dân tộc Kinh (6,7%) [45]. Viêm phổi mặc dù là bệnh nguy hiểm, nhưng chúng ta có thể kiểm soát được nó nếu như can thiệp kịp thời. Để tránh những điều đáng tiếc xảy ra đối với trẻ, sự can thiệp từ chính những người thường xuyên tiếp xúc và chăm sóc trẻ là điều hết sức cần thiết, đặc biệt ở đây là các bà mẹ. Nhưng trên thực tế cho thấy rằng, việc có kiến thức- thái độ - thực hành đúng về bệnh, chăm sóc và phòng ngừa về NKHHCT của các bà mẹ chưa được đánh giá cao.
Cụ thể, theo báo cáo của UNICEF Việt Nam thì chỉ có 5% số các bà mẹ nhận biết được các dấu hiệu trở nặng nguy hiểm của bệnh viêm phổi [52]. Vì những lý do quan trọng của vấn đề này, WHO vào đầu năm 1983 đã đề ra chương trình để phòng và chống NKHHCT cho trẻ em trên toàn cầu. Việt Nam là một trong những Quốc gia ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã áp dụng sớm chương trình này đó là vào đầu năm 1984, mục tiêu được đề ra khi áp dụng chương trình này là muốn giảm đi tỷ lệ tử vong ở trẻ em (“Cụ thể là giảm tử vong do viêm phổi”) tiếp theo là giảm tỷ lệ trẻ em mắc NKHHCT, đối tượng đặc biệt chú trọng ở đây là trẻ dưới 5 tuổi [31]. Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã đề xuất ra nhiều giải pháp can thiệp nhằm kiểm soát tỷ lệ trẻ em mắc và tử vong do các bệnh về đường hô hấp,.
trong đó biện pháp GDSK vẫn chưa được thực hiện rộng rãi.