ĐẶT VẤN ĐỀ Quá trình phát triển kinh tế xã hội, cùng với đô thị hóa nhanh chóng đã tạo nên sức ép nhiều mặt dẫn tới sự suy giảm chất lƣợng môi trƣờng sống và phát triển không bền vững. Theo đánh giá của Tổng cục Môi trƣờng - Bộ TN&MT (2012), chất thải rắn sinh hoạt ở khu vực nông thôn phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, nhà kho, chợ, trƣờng học, bệnh viện, cơ quan hành chính…Phần lớn chất thải rắn sinh hoạt là chất hữu cơ dễ phân hủy (có tỷ lệ chiếm tới 65% chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn), còn lại là các loại chất thải khó phân hủy nhƣ: túi nilon, thủy tinh.Ƣớc tính lƣợng rác thải rắn sinh hoạt ở nông thôn phát sinh khoảng 18,21 tấn/ngày, tƣơng đƣơng với 6. Việc phân loại chất thải rắn nông thôn hiện vẫn còn rất nhiều hạn chế. Chất thải rắn sinh hoạt không đƣợc phân loại tại nguồn, vứt bừa bãi ra môi trƣờng.
Một số nơi không quy định bãi tập trung rác, không có nhân viên thu gom rác. Lƣợng rác tồn đọng tại các kênh, mƣơng rất lớn và phổ biến, dẫn đến ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn đạt khoảng 40 - 55%. Do vây cần có biện pháp thu gom và xử lý RTSH theo đúng quy trình kỹ thuật nhằm đảm bảo vệ sinh môi trƣờng và sức khỏe cộng đồng.
Hiện nay trên thế giời cũng nhƣ Việt Nam đã và đang ứng dụng rất nhiều công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt khác nhau nhƣ: thiêu đốt, chôn lấp hay tái chế,… tuy nhiên những phƣơng pháp này đều có những hạn chế nhất định không phù hợp với điều kiện nƣớc ta. Do vậy, để cải thiện tình hình này các nhà khoa học đã nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi công nghệ phân sinh học cho ngƣời dân. Trong đó, các cán bộ trung tâm nghiên cứu Phát Triển Cộng Đồng Nông Thôn đã sản xuất thành công loại phân compost đạt chuẩn loại quy mô hộ gia đình trên nền nguyên liệu chủ yếu là rác thải, phế phẩm nông nghiệp, phân gia súc, bèo tây, hay thân cây ngô. Phan Thị Thanh Hoài cùng các cộng sự (ĐH Tây Nguyên) đã thành công trong việc sản xuất phân compost từ vỏ cà phê ứng dụng cho một số loại cây trồng nhƣ: chè, cà phê, lúa, ngô, cây ăn quả,… và còn rất 1 nhiều công trình nghiên cứu khác.
Qua quá trình sử dụng ngƣời nông dân đều có nhận xét tốt về loại phân bón này: cây phát triển tốt, tăng năng suất, đỡ sâu bệnh, đất tơi xốp và có tác dụng bền lâu hơn so với phân hóa học. Xã Đồng Khê - Văn Chấn - Yên Bái là một xã có nền kinh tế đang trong quá trình xây dựng và phát triển trong vài năm trở lại đây nhƣng vấn đề môi trƣờng vẫn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Rác thải ngày một tăng cao do nhu cầu tiêu dùng lớn, mỗi năm phát thải khoảng 600 tấn RTSH. Trong khi đó trên địa bàn xã vẫn chƣa có hệ thống thu gom và xử lý, tất cả chỉ mang tính chất hộ gia đình, dẫn đến hình thành lên các bãi rác tự phát gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng.
Chính quyền xã thì chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền, vận động ngƣời dân thu gom và tổ chức một số hoạt động dọn vệ sinh mang tính chất tạm thời mà chƣa có biện pháp xử lý triệt để rác thải sinh hoạt tại vùng. Hơn nữa, ngƣời dân ở đây sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Khối lƣợng phân bón sử dụng mỗi năm là rất lớn nhƣng chủ yếu là phân bón hóa học nhƣ: NPK, phân Urea, Supe Lân,.đƣợc bón với liều lƣợng cao làm cho đất bị ô nhiễm, thoái hóa và bạc màu, ngoài ra còn ảnh hƣởng đến sức khỏe, gây ngộ độc, lâu ngày có thể gây các bệnh nguy hiểm cho con ngƣời. Vì vậy cần có biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt sao cho phù hợp với hoạt động sản xuất nông nghiệp tại khu vực nông thôn này.
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp: „„ Nghiên cứu thử nghiệm công nghệ ủ phân sinh học để xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Đồng Khê, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Nhằm hạn chế sự hình thành và phát triển của bãi rác tự phát, góp phần giảm thiểu các tác động xấu từ môi trƣờng do rác thải sinh hoạt, cung cấp phân bón hữu cơ tiết kiệm chi phí cho sản xuất nông nghiệp và đảm bảo chất lƣợng cây trồng. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản.
Rác thải sinh hoạt. Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải liên quan đến hoạt động sống của con ngƣời, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cƣ, các cơ quan, trƣờng học, các trung tâm dịch vụ, thƣơng mại. Nguồn gốc, đặc điểm của rác thải sinh hoạt. Theo Nguyên Văn Phƣớc: Rác thải đƣợc phát sinh từ các nguồn khác nhau, tùy thuộc vào các hoạt động mà rác đƣợc phân chia thành các loại nhƣ sơ đồ sau: Khu xây Hoạt Khu Khu Cơ dựng và động Khu thƣơng công quan phá hủy công dân mại, cộng công công nghiệp, cƣ khách (nhà sở trình xây nông sạn… ga,….) dựng nghiệp Chất thải rắn sinh hoạt Hình 1.
Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt.1 ta thấy chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nhiều hoạt động khác nhau nhƣ: Các khu dân cƣ, khu thƣơng mại, cơ quan công sở, các hoạt động công - nông nghiệp,…tuy nhiên hàm lƣợng và thành phần rác thải ở các khu vực khác nhau, trong số đó rác thải sinh hoạt chiếm đa số. Chất thải sinh hoạt thƣờng có đặc điểm là không đồng nhất, chúng bao gồm cả những chất hữu cơ dễ phân hủy, các chất hữu cơ khó phân hủy và các chất vô cơ. Đặc điểm này gây khó khăn rất lớn cho các quá trình xử lý sau này. Nhìn chung rác thải sinh hoạt của nƣớc ta có những đặc điểm cơ bản sau: - Rác thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ rất lớn khoảng 80% tổng các loại rác thải (13.8 triệu tấn), trong đó các chất thải từ nguồn thực vật chiếm số lƣợng nhiều hơn cả.
- Chất thải hữu cơ từ rác thải sinh hoạt có nguồn gốc chủ yếu từ thực vật nên chúng có hàm lƣợng nƣớc rất cao, kết hợp với các chất dinh dƣỡng và vi sinh vật có sẵn trong chất thải gây nên hiện tƣợng thối rữa nhanh làm ô nhiễm đất, nƣớc và không khí nghiêm trọng. - Rác thải sinh hoạt ở Việt Nam chƣa đƣợc phân loại tại nguồn. Do đó, rất khó khăn trong việc xử lý chúng. Tổng quan về phân sinh học.
Định nghĩa về ủ phân compost. Ủ compost đƣợc hiểu là quá trình phân hủy sinh học hiếu khí các chất thải hữu cơ dễ phân hủy sinh học đến trạng thái ổn định dƣới sự tác động và kiểm soát của con ngƣời, sản phẩm giống nhƣ mùn đƣợc gọi là compost. Quá trình diễn ra chủ yếu giống nhƣ phân hủy trong tự nhiên, nhƣng đƣợc tăng cƣờng và tăng tốc bởi tối ƣu hóa các điều kiện môi trƣờng cho hoạt động của vi sinh vật. Các giai đoạn khác nhau trong quá trình composting có thể phân biệt theo biến thiên nhiệt độ nhƣ sau: 1.
Pha thích nghi (latent phase) là giai đoạn cần thiết để vi sinh vật thích nghi với môi trƣờng mới. Pha tăng trƣởng (growth phase) đặc trƣng bởi sự gia tăng nhiệt độ do quá trình phân hủy sinh học đến ngƣỡng nhiệt độ mesophilic. Pha ƣu nhiệt (thermophilic phase) là giai đoạn nhiệt độ tăng cao nhất. Đây là giai đoạn ổn định hóa chất thải và tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh hiệu quả nhất.
Pha trƣởng thành (maturation phase) là giai đoạn nhiệt độ đến mức mesophilic và cuối cùng bằng nhiệt độ môi trƣờng. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ủ phân compost. Các yếu tố vật lý. Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình chế biến compost vì nó quyết định thành phần quần thể vi sinh vật, ngoài ra nhiệt độ còn là một chỉ thị để nhận biết các giai đoạn xảy ra trong quá trình ủ compost.
Sự biến thiên nhiệt độ trong quá trình ủ compost. Nhiệt độ tối ƣu là 50 - 60oC, thích hợp vi khuẩn Thermophilic và tốc độ phân hủy rác là cao nhất. Nhiệt độ trên ngƣỡng này sẽ ức chế hoạt động của vi sinh vật làm cho quá trình phân hủy diễn ra không thuận lợi, còn nhiệt độ thấp hơn ngƣỡng này phân Compost sẽ không đạt tiêu chuẩn về mầm bệnh. Nhiệt độ tối ƣu của vi sinh vật.
Loại vi sinh vật Nhiệt độ (oC) Khoảng dao động Tối ƣu Psychrophillic (VSV ƣa lạnh) 10 - 30 15 Mesophilic (VSV ƣa ấm) 40 - 50 45 Thermophilic (VSV ƣa nhiệt) 45 - 75 55 * Độ ẩm. Độ ẩm (nƣớc) là một yếu tố cần thiết cho hoạt động của vi sinh vật trong quá trình chế biến phân hữu cơ. Vì nƣớc cần thiết cho quá trình hoà tan dinh dƣỡng vào nguyên sinh chất của tế bào. 5 Độ ẩm ảnh hƣởng đến sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình ủ.
Độ ẩm tối ƣu cho quá trình ủ phân CTR nằm trong khoảng 50 - 60%. Nếu độ ẩm quá nhỏ (< 30%) sẽ hạn chế hoạt động của vi sinh vật, còn khi độ ẩm quá lớn (> 65%) thì quá trình phân hủy sẽ chậm lại, sẽ chuyển sang chế độ phân hủy kỵ khí. * Kích thước hạt. Kích thƣớc hạt ảnh hƣởng lớn đến tốc độ phân hủy.
Đƣờng kính hạt tối ƣu cho quá trình chế biến khoảng 3 - 50mm. Tuy nhiên: - Nếu kích thƣớc hạt quá nhỏ, chặt làm hạn chế sự lƣu thông khí trong đống ủ sẽ làm giảm oxy cần thiết cho các vi sinh vật trong đống ủ và giảm mức độ hoạt tính của vi sinh vật. - Hạt có kích thƣớc quá lớn sẽ có độ xốp cao và tạo ra các rãnh khí làm cho sự phân bố khí không đều, không có lợi cho quá trình chế biến phân hữu cơ. Độ xốp là một yếu tố quan trọng trong quá trình chế biến phân hữu cơ.
Độ xốp tối ƣu sẽ thay đổi tuỳ theo loại vật liệu chế biến phân. Thông thƣờng, độ xốp cho quá trình chế biến diễn ra tốt khoảng 35 – 60%, tối ƣu là 32 – 36%. Độ xốp thấp sẽ hạn chế sự vận chuyển oxy, nên hạn chế sự giải phóng nhiệt và làm tăng nhiệt độ trong khối ủ. Ngƣợc lại, độ xốp cao có thể dẫn tới nhiệt độ trong khối ủ thấp, mầm bệnh không bị tiêu diệt.
* Kích thước và hình dạng của hệ thống ủ phân rác.