Chương 1, luận án thiết lập cơ sở lý luận - thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu; trong đó sau khi giải mã các khái niệm công cụ cơ bản, minh giải các lý thuyết được sử dụng, luận án phân tích yêu cầu thực tiễn cần yếu cho nghiên cứu này. Chương 2, tìm hiểu thực trạng thông điệp BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL; nhìn nhận rõ hơn vấn đề thực tế đặt ra. Chương 3, tìm hiểu công chúng báo Đảng khu vực ĐBSCL trong quá trình tiếp nhận thông điệp về BĐKH. Theo quan điểm tiếp cận của báo chí học, chúng tôi cho rằng nghiên cứu thông điệp không thể không đặt trong mối quan hệ (ở mức độ nào đó) với công chúng báo chí; và từ kết quả nghiên cứu chương 3, luận án soi chiếu với chương 2 để phân tích vấn đề thực tiễn.
Chương 4, trên cơ sở đề cập môi trường truyền thông mới và những yêu cầu đặt ra, luận án chủ yếu phân tích vấn đề thực tiễn qua khảo sát, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về BĐKH trên báo Đảng ĐBSCL. 12 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. HƢỚNG NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, TRUYỀN THÔNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Tài liệu tiếng nƣớc ngoài “Thông tin về BĐKH ề s nóng lên toàn c p ơ TTĐC vai trò rất quan trọ i với nh n th ểm c ời về vấ ề này.
Bởi h u h t mọi ời không tr c ti p tr i nghi BĐKH p i d a vào nội dung truyề ể phát triển s hiểu bi t về nó” [88]. Vì thế, nhiều nghiên cứu đã tập trung làm rõ vai trò của truyền thông - báo chí đối với việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH để điều chỉnh hành vi phù hợp. The Role of Information and Communication Technologies for community - based adaptation to climate change (2010) (tạm dịch: Vai trò c a công ngh thông tin và truyề i với cộ ng - ơ ở ể thích ng vớ BĐKH) - nghiên cứu được thực hiện bởi tổ chức Lương thực thế giới (FAO) nhấn mạnh việc áp dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả truyền thông là mấu chốt để thực hiện 3 chiến lược (1)thích ứng, (2)giảm thiểu và (3)cả hai - tức vừa thích ứng vừa giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH. Nghiên cứu này đề ra một quy trình “truyền thông cho sự phát triển” (Communication for Development) gồm 6 giai đoạn, nhằm phát huy cao nhất hiệu quả truyền thông, đáp ứng nhu cầu kiến thức và thông tin về BĐKH của các tổ chức và các nhóm dễ bị tổn thương nhằm mục tiêu phát triển bền vững.
Trong đó, thiết kế thông điệp nằm trong giai đoạn thứ 3, được xem là giai đoạn đòi hỏi nhiều sự sáng tạo nhất trong toàn bộ quy trình [110, tr16-18]. Sách A history of The science and politics of Climate change: The Role of the Intergovernmental Panel on Climate Change (2008) (tạm dịch: L ch sử khoa học và chính tr c BĐKH: V ò a IPCC i vớ BĐKH) [98] được viết bởi Giáo sư Bert Bolin, Chủ tịch đầu tiên của IPCC, cung cấp cái nhìn trung thực về sự phức tạp để triển khai xây dựng và thực hiện các chính sách về BĐKH cũng như những khuyến cáo, giải pháp để các chính sách về BĐKH được thực thi một cách suôn sẻ và hiệu quả. Đề cập đến TTĐC thông tin về về BĐKH, tác giả cho rằng các thông tin về BĐKH thời gian qua “đã có một sự phân cực đáng tiếc” và các thông điệp về BĐKH trên truyền thông đang rất hỗn độn. Thay vì nêu những dự báo và những gì nên làm, TTĐC lại cường điệu hóa, mô tả BĐKH như một thảm họa… 13 “E C A S b M D ” (2011) (Tạm d ch: T ổ ờng và nông nghi p bền vững ở ĐBSCL), do Mart A.
Stewart và Peter A. Coclanis biên tập là tập hợp những báo cáo, tham luận được trình bày tại Hội thảo quốc tế “Thay đổi môi trường, Nông nghiệp bền vững và Phát triển kinh tế”, được tổ chức tại Đại học Cần Thơ vào cuối tháng 3 năm 2010 [127]. 23 bài viết trong ấn phẩm đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị về thực trạng BĐKH ở ĐBSCL và những tác động của nó đến đời sống KT-XH, nhất là việc canh tác nông nghiệp của vùng đất đang phải làm nhiệm vụ đảm bảo “an ninh lương thực” cho quốc gia và nguồn cung cấp lương thực quan trọng của thế giới. Những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thích ứng được đề cập cũng nhấn mạnh yếu tố nâng cao nhận thức và kỹ năng chống chịu của cộng đồng nơi đây đối với sự thay đổi bất thường của môi trường.
Nghiên cứu về vai trò của truyền thông trong việc nâng cao hiệu quả ứng phó với BĐKH, Y Prabhanjan Yadav và Rapaka Jhansi Rani - đến từ Ấn Độ - nhấn mạnh vai trò tối quan trọng của truyền thông, cho rằng “chính quyề ờ ều phụ thuộc vào truyền thông, không chỉ ể phổ bi n thông tin, mà còn trong vi c thi t l p ơ s cho s phát triển và các hoạ ộng liên minh khác vì s phát triển bền vững c a qu c gia” [141]. Trong tài liệu nghiên cứu “Role of communication in climate change and sustainable development” (2011) (tạm dịch: Vai trò c a truyền i vớ BĐKH p ển bền vững), hai tác giả nhấn mạnh: Yêu cầu về trách nhiệm của báo chí là cung cấp thông tin hữu ích nhằm giúp xã hội hiểu sâu hơn các vấn đề và khuyến khích tìm kiếm các giải pháp khả thi để thích ứng và giảm thiểu tác hại của BĐKH. Trách nhiệm xã hội là tiêu chí duy nhất để phân biệt báo chí với blog, thông tin sai lệch hoặc thông tin theo kiểu định hướng. Tác giả cũng xây dựng một quy trình truyền thông cho trường hợp xảy ra thảm họa thiên tai và khuyến cáo các phương tiện TTĐC nên tuân theo để giảm thiểu hậu quả đến mức thấp nhất… Sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình truyền thông xã hội trong hơn một thập kỷ qua cũng mở ra cho các nhà khoa học nghiên cứu về BĐKH những góc nhìn mới.
Anderson đã chỉ ra trong nghiên cứu của mình The Role of the Media in the Construction of Public Belief and Social Change (2017) (Tạm dịch: Vai trò c a truyền thông trong vi c xây d ng niềm tin cộ ổi xã hội) [96] một số 14 “bằng chứng” cho thấy truyền thông xã hội đã tác động tích cực, nâng cao nhận thức về BĐKH của công chúng bằng cách tạo ra những diễn đàn trao đổi về vấn đề này; hình ảnh và video về các sự kiện thời tiết khắc nghiệt trong khu vực giúp người xem dễ dàng tiếp thu, từ đó thay đổi quan niệm mặc định BĐKH là những “thông tin khoa học phức tạp”, giúp tiếp cận đối tượng lớn công chúng thông qua chia sẻ và thảo luận. Tuy nhiên, truyền thông xã hội thiếu sự kiểm soát và ý kiến khoa học trong một số trường hợp lại làm gia tăng sự hoài nghi về BĐKH… Trong khi phần đông các nhà khoa học và công chúng nhìn nhận BĐKH là vấn đề hiện hữu và cần cấp thiết ứng phó, thì trên báo chí và TTĐC vẫn có những tiếng nói “phủ nhận BĐKH” (Climate denial), thậm chí hình thành nên “Chủ nghĩa hoài nghi BĐKH” (Climate skepticism). Trong một hướng nghiên cứu khác, (Cross-national comparison of the presence of climate scepticism in the print media in six countries, 2007-2010) (2012). (Tạm dịch: So sánh xuyên qu c gia về s hi n di n c a ch ĩ BĐKH ờ báo in ở sáu qu c gia, 2007-2010) [119], James Painter và Teresa Ashe đã tiến hành đối chiếu mức độ và số lượng xuất hiện những quan điểm theo Chủ nghĩa hoài nghi BĐKH trên báo in ở Brazil, Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ, Anh và Mỹ.
Kết quả cho thấy báo Mỹ và Anh có tỷ lệ xuất hiện cao nhất các bài báo có tiếng nói hoài nghi, trong khi báo chí Pháp và ba nước đang phát triển cung cấp ít không gian hơn cho những đối tượng này. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có một sự tương ứng mạnh mẽ giữa khuynh hướng chính trị của một tờ báo và sự sẵn sàng trích dẫn hoặc sử dụng tiếng nói hoài nghi không kiểm chứng trong các ý kiến… Trong báo cáo “Perceptions of Climate Change: The Role of Art and the Media” (2011) (tạm dịch: Nh n th c về BĐKH: V ò a ngh thu t và truyền thông) trình bày tại hội nghị chuyên đề “N Đạ T D ơ ề BĐKH: V ò N T ề ”, được tổ chức vào ngày 18 và 19-10- 2010, tại đại học Boston, hai nhà nghiên cứu Miquel Muñoz và Bernd Sommer nêu thực tế ngày càng nhiều người Mỹ không tin BĐKH do con người gây ra và truyền thông về BĐKH có lẽ là thất bại lớn nhất của báo chí Hoa Kỳ. Bởi lẽ xu hướng thương mại đơn thuần khiến cho nhiều báo chí Hoa Kỳ thích “t p trung vào các nội dung xung ột và bấ ng chính ki ể cung cấp cho khán gi c a họ một câu chuy n ly kỳ” hơn là những thông tin dài hơi và không mấy mới mẻ của BĐKH. Đồng thời, khẳng định các thông điệp tiếp nhận từ các phương tiện TTĐC và nghệ thuật là tác động 15 mạnh nhất đến định hình nhận thức của công chúng.
Điều này càng thể hiện vai trò quan trọng của truyền thông, bởi vì “nh n th c c a công chúng về nguyên nhân, r i ro và h u qu c BĐKH i cùng sẽ chi ph i quy nh ph n ng chính tr , kinh t và xã hộ i với nó” [131]. Stewart và Peter A. Coclanis biên tập là tập hợp những báo cáo, tham luận được trình bày tại Hội thảo quốc tế “Thay đổi môi trường, Nông nghiệp bền vững và Phát triển kinh tế”, được tổ chức tại Đại học Cần Thơ vào cuối tháng 3 năm 2010 [127]. 23 bài viết trong ấn phẩm đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị về thực trạng BĐKH ở ĐBSCL và những tác động của nó đến đời sống KT-XH, nhất là việc canh tác nông nghiệp của vùng đất đang phải làm nhiệm vụ đảm bảo “an ninh lương thực” cho quốc gia và nguồn cung cấp lương thực quan trọng của thế giới.
Những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thích ứng được đề cập cũng nhấn mạnh yếu tố nâng cao nhận thức và kỹ năng chống chịu của cộng đồng nơi đây đối với sự thay đổi bất thường của môi trường.