Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA PHÙNG QUÁN 1. Khái niệm tƣ duy nghệ thuật và tƣ duy thơ 1. Tƣ duy nghệ thuật Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính, bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng. Tư duy của con người có bản chất xã hội, chịu sự chế ước của các nhu cầu xã hội và sử dụng ngôn ngữ, là cái chỉ tồn tại trong xã hội loài người.
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng. Tư duy hướng đến sự thành thục, khi sự thành thục đã có thì tư duy kết thúc. Tư duy nghệ thuật là tư duy sáng tạo của con người trong lĩnh vực nghệ thuật. “Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật.
Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định. Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mĩ. Phương tiện của nó là các biểu tượng, tượng trưng và có thể trực quan được. Cơ sở của nó là tình cảm.
Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính định giá ước lệ, nó hướng tới sự nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính, mang nội dung khả nhiên, có thể cảm thấy, theo xác suất khả năng và tất yếu. Như vậy, tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo trong việc lựa chọn biểu tượng nghệ thuật để truyền tải cách tư duy, cách nhìn thế giới của mình. Trong sáng tạo nghệ thuật, tư duy hình tượng là kiểu tư duy đặc thù. Cái tôi nghệ sĩ tham gia vào quá trình tư duy với chức năng điều khiển, điều chỉnh tư duy đi theo đúng quy luật nhận thức và đặc trưng của sáng tạo nghệ thuật.
Nó nội quan hóa thực tại và tự biểu hiện mình qua hình tượng nghệ thuật. Đó là sự thống nhất hài hòa giữa cảm tính và lí tính, giữa chủ quan và khách quan. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tư duy thơ là sự thể hiện cái tôi đang tư duy Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật.
Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự biểu hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy. Trong Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành cho rằng: “Thơ trữ tình là “bản tốc kí nội tâm”. Nghĩa là sự tuôn trào của hình ảnh, từ ngữ trong một trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của người sáng tạo. Chính vì vậy, về bản chất, mọi nhân vật trữ tình trong thơ chỉ là những biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình.
166] Theo định nghĩa của Karx Marx thì “cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính người, có quan hệ tích cực với thế giới và với chính bản thân mình. Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình. Như vậy, cái tôi vừa mang bản chất xã hội, vừa mang dấu ấn cá nhân. Cái tôi là sự thể hiện của chủ thể trong nhận thức và sáng tạo, là nền tảng của sự sáng tạo.
Vì vậy, với một hoạt động đặc trưng là sáng tạo nghệ thuật, cái tôi đương nhiên giữ vai trò chủ đạo. Nhân vật trữ tình trong sáng tạo nghệ thuật là sự biểu hiện trực tiếp của cái tôi đang tư duy. Trong thơ trữ tình, cái tôi trữ tình đóng một vai trò quan trọng. Theo định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học, thơ trữ tình “chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình.
Trong đó, cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thực hiện một cách trực tiếp. Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình. Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm từ các cung bậc tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học. 317] Cái tôi trữ tình có nhiều biểu hiện nhưng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành, nó được biểu hiện dưới hai dạng chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp.
Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ. Tuy nhiên, do sự chi phối quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định. Thứ nhất là cái tôi trữ tình trực tiếp, cái tôi thứ nhất, khi nó phản ánh tình cảm của cái tôi, ta có tư duy thơ thiên về hướng nội, khi nó phản ánh khách thể, ta có tư duy thơ thiên về hướng ngoại. Hướng nội và hướng ngoại trong tư duy thơ không đối lập mà bao hàm.
Có hướng nội trực tiếp, và có hướng nội gián tiếp; hướng ngoại cũng có hướng ngoại trực tiếp và hướng ngoại gián tiếp. Giữa chúng có mối quan hệ tương đồng, tuy nhiên tư duy thơ lúc thiên về chủ thể, lúc thiên về khách thể. “Hướng ngoại gián tiếp là đặt chủ thế ở vị trí thứ yếu, không quan trọng. Mục đích phản ánh của thơ là hiện thực khách quan.
Cái tôi, chỉ là phương tiện phản ánh hiện thực mà thôi. Nhưng cái tôi ở đây là cái tôi hiện thực, cái tôi trữ tình không đối lập với cái tôi tác giả, phản ánh những tình cảm điển hình, những trạng thái tiêu biểu của cái tôi trong mọi liên hệ đối với thực tại. Đặc điểm này dễ bị lẫn với đặc điểm hướng nội gián tiếp. Nhưng hướng nội gián tiếp thì mục đích biểu hiện là cái chí khí cá nhân, tình cảm cá nhân.
Tình cảm, chí khí ấy không mang tính chất đại diện cố ý cho cái chung. Còn hướng ngoại gián tiếp thì cái riêng được nhấn mạnh ở khía cạnh đại diện cho cái chung chứ không phải được nhấn mạnh ở phía đặc thù. “Như chúng ta đã biết, thơ trữ tình được coi là “những bản tốc kí nội tâm”. Nhưng nội tâm không chỉ là những lời độc thoại.
Nội tâm cũng được biểu hiện bằng hình ảnh, bằng biểu tượng trực quan. Khi trong thơ không còn những sự lí giải, biện luận có tính chủ quan mà chỉ giữ lại những biểu tượng, những hình ảnh hiện thực khách quan, cái tôi trữ tình ẩn khuất đi để cho hình ảnh tự vận động… thì ta nói tư duy thơ hướng ngoại hoàn toàn, hay hướng ngoại trực tiếp. 218] Một điểm cần nhấn mạnh là cái tôi trữ tình không hoàn toàn đồng nhất và trùng khít với cái tôi của nhà thơ mà là sự thể hiện tinh thần và tư duy sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ. Thứ hai là cái tôi trữ tình gián tiếp, cái tôi thứ hai, hay cái tôi đã được nghệ thuật hóa trong tác phẩm.
Cái tôi này là cái tôi nhập vai, mang nhiều vai. Hà Minh Đức, đó là trường hợp nhập vai vào một nhân vật nào đó, có thể có thật (ví dụ như trong bài Mẹ Tơm – Tố Hữu). Nhưng cái tôi trực tiếp vẫn có mặt trong 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác phẩm, biểu hiện ở cách cảm cách nghĩ. Và ngay từ cảm hứng chủ đạo đến giọng điệu thi ca vẫn mang dấu ấn của chủ thể sáng tạo.
Tư duy thơ là sự khôi phục sáng tạo các biểu tượng trực quan để bộc lộ nhận thức chủ quan Thơ có một khả năng biểu đạt phong phú nhờ hệ thống biểu tượng đa dạng. Biểu tượng trong thơ vừa mang tính chất biểu tượng thính giác, vừa mang tính biểu tượng thị giác. Chính vì thế mà trong thơ vừa có nhạc vừa có họa. Trong cuốn Từ điển triết học của M.Iudin, biểu tượng được hiểu là “hình ảnh cảm tính cụ thể về những hiện tượng của thế giới bên ngoài.
Biểu tượng cùng với cảm xúc và tri giác tạo nên nhận thức cảm tính… Tri giác phản ánh một sự vật riêng lẻ tác động vào giác quan của chúng ta trong những trường hợp cụ thể nhất định. Biểu tượng phản ánh khái quát hơn, trừu tượng hơn. Tư duy hình tượng là đặc trưng của nghệ thuật. “Tư duy logic thường thoát khỏi những biểu tượng trực quan mà chủ yếu vận dụng khái niệm.
Tư duy khoa học mang tính khách quan. Ở tư duy hình tượng, các biểu tượng trực quan do quá trình quan sát, thu nhận được là công cụ trực tiếp của tư duy. Có thể coi tư duy hình tượng là quá trình khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan. Sáng tạo các biểu tượng mới và thể hiện lại dưới một hình thức cụ thể.
Còn tư duy toán học, tư duy logic là làm biến đổi các mối quan hệ đã biết để tìm các mối quan hệ mới giữa các khái niệm, các đại lượng. 28] Cụ thể trong văn học, biểu tượng văn học “là những hình ảnh, tín hiệu ngôn ngữ trong tác phẩm có tính khái quát và phổ biến đến mức có khả năng gợi ra một hình ảnh khác hoặc một số phẩm chất, một số đặc trưng khác với đối tượng biểu hiện. 20] Trong Từ điển thuật ngữ văn học, biểu tượng được định nghĩa là “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc của một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn vừa khái quát được bản chất của hiện tượng, vừa thể hiện một quan điểm, một tư tưởng, hay triết lí sâu xa về con người và cuộc đời…” [ 16, tr.
23] Tuy có tính khái quát và phổ biến, nhưng biểu tượng không mang giá trị cũ 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mòn, mà luôn sống động nhờ sự làm mới biểu tượng từ trong tư duy của người nghệ sĩ. Biểu tượng trong văn học là những hình ảnh cụ thể, sinh động, gợi cảm nhưng mang những ý nghĩa quy ước của nhà văn hoặc của người đọc. Biểu tượng mang tính đa nghĩa, tính văn hóa truyền thống.