Lí do nghiên cứu. Chính sách nhà nước đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế nói chung và lâm nghiệp nói riêng đã tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích số lượng lớn doanh nghiệp đầu tư vốn vào sản xuất và chế biến lâm sản phục vụ nhu cầu ngày càng tăng trong nước và xuất khẩu. Nền kinh tế nói chung và lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp nói riêng đã và đang tiếp tục vận hành theo sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường và ngành hàng lâm sản xuất khẩu đang ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế quốc dân. Trong khi đó Việt Nam đã bắt đầu quá trình hội nhập khu vực mậu dịch tự do AFTA và đang trong lộ trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO.
Hội nhập khu vực và thế giới đem lại nhiều cơ hội để tăng trưởng kinh tế trong nước, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, làm cho các sản phẩm của Việt Nam có thể tìm được vị trí xứng đáng trên thị trường trong và ngoài nước. Các sản phẩm lâm sản của Việt Nam có cơ hội thâm nhập các thị trường như Nhật Bản, Châu Âu hoặc các thị trường mới như Mỹ một cách mạnh mẽ với việc rỡ bỏ các rào cản thương mại và các thủ tục pháp lý. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi đó thì việc hội nhập quốc tế cũng đặt ra nhiều khó khăn và thách thức cho nền kinh tế nói chung và ngành chế biến lâm sản xuất khẩu nói riêng. Các sản phẩm lâm sản của Việt Nam phải tuân thủ một cách chặt chẽ các các quy định về chất lượng sản phẩm và tiêu chuẩn môi trường do các nước tiêu thụ quy định, phải cạnh tranh gay gắt với các nước xuất khẩu đồ gỗ mạnh trong khu vực.
Trong khi ngành chế biến lâm sản xuất khẩu của chúng ta còn bộc lộ nhiều khó khăn chưa giải quyết được như khó khăn về nguồn nguyên liệu, về thông tin thị trường quốc tế, về công nghệ và vấn đề thương hiệu. Do những khó khăn trên nên ngành chế biến lâm sản xuất khẩu của Việt Nam mặc dù được đánh giá là có lợi thế cạnh tranh hơn các nước khác trong 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khu vực nhưng thị phần của hàng lâm sản xuất khẩu nước ta tới các thị trường còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực. Thị trường lâm sản xuất khẩu vẫn đang được coi là một thị trường giàu tiềm năng mà các doanh nghiệp Việt Nam chưa khai thác được, nếu như chúng ta khắc phục được những khó khăn trên thì kim ngạch xuất khẩu trong lĩnh vực này có khả năng tăng mạnh hơn nữa trong tương lai. Để khắc phục những khó khăn trên thì việc hoạch định chính sách tạo sự phát triển chiến lược cho ngành là hết sức quan trọng và cần thiết, điều này sẽ tạo sự phát triển cân đối, ổn định và bền vững cho ngành chế biến lâm sản xuất khẩu trong tương lai.
Do yêu cầu cấp thiết của quá trình xây dựng chiến lược phát triển cho ngành đòi hỏi những thông thông tin cập nhật, chính xác về thị trường và sản xuất của từ các doanh nghiệp nên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này làm luận văn tốt nghiệp: "Nghiên cứu thực trạng thị trường và sản xuất lâm sản xuất khẩu tại Công ty Bắc Á" 2. Câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu: thực tiễn vấn đề nghiên cứu đặt ra một số câu hỏi như sau: - Tình hình thị trường và sản xuất lâm sản xuất khẩu tại Công ty Bắc Á hiện nay như thế nào. - Các chính sách của Đảng và Nhà nước hiện nay ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động sản xuất, chế biến lâm sản phục vụ xuất khẩu nói chung và Công ty Bắc Á nói riêng.
- Nhu cầu thị trường xuất khẩu ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động sản xuất, chế biến lâm sản xuất khẩu của Công ty Bắc Á. Mục tiêu nghiên cứu: Những câu hỏi trên đặt ra cho người nghiên cứu rất nhiều mục tiêu cần thực hiện, nhưng do tính ứng dụng thực tiễn của khoá luận nên tôi chỉ tập trung vào ba mục tiêu chính sau: 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tìm hiểu thực trạng thị trường và sản xuất chế biến lâm sản phục vụ xuất khẩu của Công ty Bắc Á. - Phân tích vai trò ảnh hưởng của các chính sách hiện hành tới tình hình thị trường và sản xuất của Công ty Bắc Á hiện nay và trong tương lai – Đề thi thử đại học - Đề xuất được các ý kiến khuyến nghị về mặt chính sách nhằm phát triển thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng lâm sản xuất khẩu. Đối tƣợng và nội dung nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: - Thị trường xuất khẩu lâm sản của Công ty Bắc Á trong những năm gần đây. - Tình hình sản xuất chế biến lâm sản của Công ty. Nội dung nghiên cứu: - Tìm hiểu và rà soát lại các văn bản pháp quy hiện hành có liên quan tới ngành hàng lâm sản xuất khẩu. - Thực trạng thị trường và tình hình sản xuất chế biến lâm sản của Công ty.
- Đánh giá ảnh hưởng của các chính sách đang triển khai trong thực tiễn đến thị trường và sản xuất lâm sản xuất khẩu của Công ty. - Đề xuất khuyến nghị về mặt chính sách nhằm phát triển thị trường và sản xuất chế biến lâm sản xuất khẩu. Phƣơng pháp nghiên cứu. - Nghiên cứu, kế thừa tài liệu.
+ Sử dụng các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như các tạp chí và các thông tin báo cáo của các bộ, các ngành. + Kế thừa các kết quả của các nghiên cứu khoa học, các khoá luận có liên quan. + Sử dụng các báo cáo về kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Điều tra khảo sát thực tế để thu thập thông tin, số liệu về tình hình thị trường và sản xuất của Công ty.
- Sử dụng các phương pháp phân tích kinh tế để tổng hợp và phân tích các số liệu thông tin thu thập được. - Sử dụng phương pháp phân tích chính sách để đánh giá tác động của các chính sách. - Sử dụng phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của những người chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu và những người có kinh nghiệm.Phạm vi nghiên cứu. - Thời gian: Thu thập số liệu liên quan trong 3 năm từ 2002 - 2004.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN II. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG VÀ SẢN XUẤT LÂM SẢN XUẤT KHẨU.THỊ TRƢỜNG LÂM SẢN QUỐC TẾ.Thị trƣờng sản phẩm. Thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ chủ yếu vẫn là các nước phát triển như các nước Bắc Mỹ (Mỹ), Châu EU và Châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản). Thị trường các nước phát triển có lợi thế cơ bản như : Nền kinh tế phát triển ổn định; sức mua của thị trường lớn và nhu cầu tăng liên tục; các thể chế về kinh doanh thương mại tương đối hoàn thiện, hệ thống phân phối tiêu thụ rộng khắp và và năng động.
Theo các chuyên gia thì khuynh hướng tiêu dùng hiện nay của các nước phát triển đang có sự thay đổi theo hướng có lợi cho các nước đang phát triển. Cụ thể là, không đòi hỏi quá cao về chất lượng sản phẩm, nhưng phải có nhãn hiệu thể hiện sự độc đáo cảu sản phẩm với giá cả vừa phải. Cách lựa chọn những sản phẩm này ở mỗi thị trường, mỗi nước có những đặc điểm riêng biệt, không giống nhau.1 Thị trường Mỹ : Các nhà nhập khẩu Mỹ cho biết, hàng năm người tiêu dùng Hoa Kỳ sử dụng 75 tỷ USD cho mua sắm các mặt hàng gỗ, trong đó 15 tỷ USD hàng gỗ được cung ứng từ các nhà xuất khẩu nước ngoài. Họ chỉ muốn giao dịch tập trung ở một, hai nhà cung cấp với số lượng lớn, thường sử dụng đồ gỗ có thêm những chi tiết bằng vật liệu khác như kim loại, nhựa, da, vải.
Người tiêu dùng Mỹ có tính cách: không chờ đợi lâu, quyết định mua bán nhanh theo ngẫu hứng, không thích các hàng hoá đại chúng dễ bắt chước, chỉ 1 Báo đầu tư, 13/10/2004 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thích các loại hàng mang vẻ độc đáo, thể hiện cá tính của người mua và coi trọng đến giá cả.2 Nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ tại Mỹ những năm gần đây không ngừng tăng, ước tính từ 1996 đến năm 2001 nhu cầu này tăng 33,6% (1996: tiêu thụ 23.622 triệu USD, năm 2001: tiêu thụ 31. Do trong nước không đáp ứng đủ nên đồ gỗ nhập khẩu vào Mỹ liên tục tăng, từ mức 4.988 triệu USD năm 1996 lên 10. Nói cách khác, đồ gỗ nhập khẩu hiện chiếm 1/3 thị phần đồ gỗ tại Mỹ.3 Những mặt hàng đồ gỗ được tiêu thụ chính: đồ làm từ gỗ (chiếm 44% thị phần) gồm giường ngủ, bàn ăn, đồ gỗ phòng khách, bếp; đồ gỗ nhồi (bọc) chiếm 37,8%, chủ yếu là salông, sôpha; đồ bọc nệm (mattress) chiếm 12,5%; đồ làm từ kim loại chiếm 5,8%, chủ yếu là đồ ngoài trời và nhà bếp, phòng ăn. Vào năm 1996, Canada là nước dẫn đầu về xuất khẩu đồ gỗ vào Mỹ, đến năm 2001 Trung Quốc đã nhảy lên vị trí thứ nhất với thị phần 33%, tiếp theo là Canada (18%), Ý (11%), Mexico (7%), Đài Loan (5%).
Sản phẩm từ Trung Quốc gồm đồ bằng gỗ và kim loại, của Canada là bằng gỗ và của Ý chủ yếu là loại gỗ bọc da, nệm… Trong nửa cuối năm 2004 thị phần đồ gỗ nhập khẩu của Mỹ đã có sự thay đổi đáng kể sau khi Bộ thương mại Hoa kỳ điều tra và kết luận Chính phủ Trung Quốc đã tài trợ gần 1 tỷ USD cho các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ và áp dụng mức thuế chống bán phá giá với các sản phẩm đồ gỗ Trung Quốc từ ngày 1/5/2004. Mức thuế chống bán phá giá từ 4,9% đến 198% đã làm cho giá của các mặt hàng đồ gỗ Trung Quốc nhập vào Mỹ tăng một cách đáng kể, điều này đã dẫn đến tình trạng nhiều đơn hàng lớn chuyển từ Trung Quốc sang các nước Châu Á khác đặc biệt là các nước Đông Nam Á nơi có nguồn nhân công rẻ và có ưu thế hơn về giá cả.4 2 Báo đầu tư, 13/10/2004 3 Báo Sài Gòn tiếp thị 4 Báo diễn đàn doanh nghiệp, 26/7/2004 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thị trường Châu Âu. Ngành công nghiệp đồ gỗ tại EU là một trong những ngành sản xuất lớn nhất (tổng trị giá 82 tỉ euro năm 2000, tương đương 73 tỉ USD) và chiếm ½ sản lượng đồ gỗ thế giới.