mở đầu cho nền văn minh nông nghiệp phát triển. Nhƣng nông nghiệp càng phát triển thì con ngƣời phải đối mặt với dịch hại do côn trùng gây ra. Mức độ gây hại của chúng lớn đến nỗi con ngƣời phải tìm hiểu và nghiên cứu về côn trùng để giảm thiểu tác hại của chúng và mở mang tri thức của con ngƣời về thế giới tự nhiên. Những ghi chép đầu tiên về côn trùng đã đƣợc ngƣời Syrie (vào khoảng những năm 3000 TCN) ghi lại về các cuộc di cƣ khổng lồ và sức phá hoại ghê gớm của những đàn châu chấu sa mạc (Schistocera gregaria).
Trong các cuốn sách nghiên cứu của nhà triết học cổ đại Hy Lạp Aristoteles (384 - 322 TCN) đã hệ thống hóa và gọi tên đƣợc 60 loài côn trùng. Ông gọi chúng là những loài chân đốt. Những ghi chép và nghiên cứu về côn trùng đã có từ thời cổ đại nhƣng phải đến tận đầu thế kỷ 17, con ngƣời mới thực sự quan tâm về nghiên cứu côn trùng và đã có rất nhiều tài liệu đƣợc phát hành trong thời gian này. Nhà triết học Carl von Linne (1707 - 1778) đã xuất bản cuốn sách “Systema naturae”.
Ông là ngƣời đầu tiên phân loại động vật, trong đó có côn trùng một cách hiện đại và dễ hiểu. Trong cuốn sách “Hệ thống tự nhiên” suất bản lần thứ 10, Linne đã nêu ra cách gọi tên khoa học của các loài sinh vật. 3 Năm 1793, tác phẩm: “Mối quan hệ giữa cấu tạo của hoa và quá trình thụ phấn nhờ côn trùng” của Sprengel (1750 - 1816) lần đầu tiên nói về vai trò của côn trùng trong quá trình thụ phấn của hoa. Trong các thế kỷ tiếp theo, đều có những công trình nghiên cứu về côn trùng của các nhà khoa học nhƣ: Lamarck thế kỷ XIX, Handlirich thế kỷ XX, Krepton (1904), Weber (1938) đã góp phần phân loại côn trùng.
Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh năm 1745. Hội côn trùng Nga thành lập năm 1859. Các cuộc hành trình của các nhà nghiên cứu côn trùng Nga: Potarin (1899 - 1976), Provorovski (1895 - 1979), Kozlov (1883 - 1921) đã xuất bản những ấn phẩm về côn trùng ở trung tâm châu Á, Mông Cổ và miền tây Trung Quốc. Thế kỷ XX ghi nhận sự đột phá về các công trình nghiên cứu về côn trùng ở châu Âu, châu Mỹ gồm 40 tập, ở Madagatsca gồm 6 tập, quần đảo Hawoai, Ấn Độ và nhiều nƣớc khác.
Năm 1910-1940 các tác giả Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240000 loài in trong 31 tập. Ilinski xuất bản cuốn “Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng”. Năm 1950 Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đã xuất bản tập “Phân loại côn trùng ở các dải rừng phòng hộ” của các tác giả L.Ap-non-di và G. Tại Trung Quốc, môn côn trùng lâm nghiệp đƣợc đƣa vào giảng dạy trong các trƣờng đại học về lâm nghiệp từ năm 1952, từ đó việc nghiên cứu về côn trùng lâm nghiệp đƣợc đẩy mạnh.
Năm 1959, Trƣơng Chấp Trung viết cuốn “Sâm lâm côn trùng học” sau đó cuốn sách này đƣợc viết lại nhiều lần. Tác phẩm đã giới thiệu về hình thái, tập tính sinh học và các biện pháp phòng trừ nhiều loại sâu phá hoại các loài cây rừng. Năm 1962 nhà khoa học ngƣời Rumani M.Ionescu phát hành cuốn “Côn trùng học”. Tác phẩm có đề cập đến phân loại họ Bọ lá (Chrysomelidae) có 24000 loài và đƣợc tác giả mô tả 14 loài.
4 Năm 1965, Viện Hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn trùng ở châu Âu, trong đó tập thứ 5 chuyên về phân loại Bộ Cánh cứng (Coleoptera), xây dựng bảng tra 1350 loài thuộc họ Bọ lá (Chrysomelidae).N boronxop đã viết giáo trình “Côn trùng rừng” đề cập đến nhiều loài côn trùng thuộc Bộ Canhs cứng hại cây rừng nhƣ: Mọt, xén tóc, sâu đinh, bọ lá,…. Năm 1966, Bey-Bienko đã mô tả 300000 loài côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng. Trên đây là một số mốc lịch sử nổi bật về sự phát triển của ngành nghiên cứu côn trùng trên thế giới. Côn trùng là lớp động vật có số lƣợng loài lớn nhất và phân bố rộng rãi trên thế giới.
Do đó các tài liệu nghiên cứu về côn trùng rất phong phú và đa dạng.2 Khái quát tình hình nghiên cứu về côn trùng ở Việt Nam Côn trùng ở Việt Nam bắt đầu đƣợc nghiên cứu vào cuối thế kỷ XIX thời Pháp thuộc. Năm 1904 đoàn nghiên cứu tổng hợp Mission Parie đã công bố cuốn “Côn trùng chí Đông Dƣơng”. Cuốn sách ghi nhận 1020 loài trong đó có 541 loài thuộc Bộ Cánh cứng, 168 loài thuộc Bộ Cánh vảy, 139 loài chuồn chuồn, 59 loài mối, 55 loài thuộc Bộ Cánh màng, 9 loài thuộc Bộ Hai cánh và 49 loài thuộc các bộ khác. Ngƣời Pháp đã thành lập các phòng, viện nghiên cứu nhƣ: Phòng nghiên cứu côn trùng, Trạm nghiên cứu côn trùng Chợ Ghềnh, Phòng nghiên cứu côn trùng thuộc Viện khảo cứu khoa học Sài Gòn.
Từ năm 1961-1968 Bộ nông nghiệp đã tiến hành các cuộc điều tra cơ bản xác định đƣợc 2962 loài côn trùng thuộc 223 họ, 20 bộ khác nhau. Năm 1967, xuất bản giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp” của Phạm Ngọc Anh. Năm 1987, cuốn “Côn trùng rừng Việt Nam” của Thái Bang Hoa và Cao Chu Lâm đã xây dựng bảng tra của 3 họ phụ của họ Bọ lá (Chrysomelidae) với 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài và họ phụ Galirucinae với 93 loài. Năm 2001, các tác giả Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão đã viết cuốn “Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp”.
Cuốn sách nêu ra những phƣơng pháp điều tra, dự tính, dự báo khả năng phát triển thành dịch của sâu, bệnh hại rừng. 5 Năm 2002, Cao Thị Kim Thu đã xây dựng khóa định loại loài tới bộ Cánh úp ở Việt Nam. Đặt cơ sở cho những nghiên cứu về bộ cánh úp ở nƣớc ta sau này. Những nghiên cứu về các bộ Cánh cứng (Coleoptera), bộ Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera), bộ Cánh rộng (Megaloptera) chủ yếu thƣờng nằm trong những mục nhỏ của các công trình nghiên cứu về hệ sinh thái côn trùng nhƣ: Nghiên cứu côn trùng ở VQG Tam Đảo,….
Các nghiên cứu về côn trùng ở nƣớc ta tuy còn hạn chế nhƣng trong những năm gần đây đã đƣợc quan tâm và càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng góp phần làm phong phú thêm hiểu biết của chúng ta về các loài côn trùng ở Việt Nam.3 Một số kết quả nghiên cứu về sâu hại Keo tai tƣợng Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sâu hại keo tai tƣợng tiêu biểu nhƣ nghiên cứu của Creggield, J.W và Peter tại Australia đã nêu ra có 6 loài sâu gây hại nghiêm trọng và khó khống chế. Tại nƣớc ta trong các năm từ 1992 đến 2012, Viện Điều tra quy hoạch rừng đã báo cáo tổng kết kết quả điều tra thành phần loài sâu hại rừng tại các khu vực khác nhau trong nƣớc. Theo báo cáo cho thấy có khoảng 42 loài sâu hại, 3 loại bệnh hại trên cây keo. Trong đó gây hại nhiều nhất là 4 loài thuộc họ Ngài đêm (Noctuidae), bộ Cánh vẩy (Leopidoptera) là: Sâu nâu (Anomis fulvida Guenée), Sâu nâu vạch xám (Speiredonia retoria Linnuaeus), Sâu 4 vết đen (Hypocala sp), Sâu đen khoang (Hylodes caranea Cramer).
Năm 2001, Nguyễn Thế Nhã đã xác định đƣợc 40 loài thuộc 19 họ, 6 bộ hại keo tai tƣợng và keo lá tràm. Trong đó có 30 loài sâu ăn lá, 8 loài hại rễ, 5 loài hại chồi ngọn. Các loài sâu hại chính bao gồm: Sâu nâu, sâu vạch xám, sâu kèn. Hiện nay đã có chƣơng trình IPM để quản lý các loài sâu hại này.
Ngoài ra, còn có nhiều những nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học Lâm nghiệp Việt Nam, các bài báo viết trên những tạp chí khoa học ranh tiếng đề cập đến các loài sâu hại keo tai tƣợng. 6 CHƢƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu chung Góp phần nâng cao năng suất, chất lƣợng gỗ cây Keo tai tƣợng đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, cải thiện đời sống của ngƣời dân địa phƣơng.2 Mục tiêu cụ thể - Xác định đƣợc thành phần các loài sâu hại và loài sâu hại chính trên cây Keo tai tƣợng tại khu vực nghiên cứu. - Xác định đƣợc đặc điểm sinh vật học của các loài sâu hại chính. - Đề xuất đƣợc các biện pháp quản lý sâu hại chủ yếu Keo tai tƣợng.2 Đối tƣợng nghiên cứu Các loài sâu hại cây keo tai tƣợng trong địa phận hành chính của thị trấn Vĩnh Lộc , huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.3 Địa điểm nghiên cứu Đề tài đƣợc thực hiện tại thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.4 Thời gian nghiên cứu Đề tài đƣợc thực hiện từ ngày 12/1/2018 đến ngày 4/5/2018.5 Nội dung nghiên cứu 1.
Điều tra thành phần loài sâu hại Keo tai tƣợng tại khu vực nghiên cứu. Xác định các loài sâu hại chính trên cây Keo tai tƣợng. Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của các loài sâu hại chính tại khu vực nghiên cứu. Đề xuất các biện pháp quản lý sâu hại cây Keo tai tƣợng.6 Phƣơng pháp nghiên cứu 2.1 Kế thừa số liệu Để có thể thu thập đƣợc đầy đủ các thông tin cần thiết cho đề tài nghiên cứu bên cạnh việc điều tra trực tiếp ngoài thực địa thì công việc kế thừa các tài liệu, báo cáo, nghiên cứu,….
tại địa bàn nơi đề tài đƣợc thực hiện (thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang) có ý nghĩa quan trọng. Qua công tác kế thừa số liệu, ngƣời thực hiện đề tài mới có đƣợc các thông tin về diện tích trồng, giống cây, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cũng nhƣ tình hình phát sinh dịch bệnh hại cây Keo tai tƣợng của khu vực nghiên cứu.2 Phương pháp điều tra thành phần loài sâu hại Mục tiêu là xác định đƣợc chính xác các chỉ tiêu về thành phần, mật độ sâu hại (con/cây; con/m2), tỷ lệ sâu hại, tỷ lệ cây bị hại và mức độ gây hại của sâu. Sau đó lập ra danh lục các loài sâu hại keo tai tƣợng thông qua quá trình nghiên cứu trực tiếp tình hình sâu hại, kế thừa tài liệu của UBND thị trấn Vĩnh Lộc, kết quả phỏng vấn chủ các lâm phần trồng keo tai tƣợng. Từ đó, xác định các loài sâu hại chính.
Để việc điều tra đem lại kết quả tin cậy nhất cần phải lựa chọn địa điểm điều tra mang tính đại diện cho khu vực nghiên cứu.