ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Cao su (Hevea brasiliensis), có nguồn gốc từ vùng Amazone ở Nam Kỳ, là cây của vùng nhiệt đới xích đạo, là một loài cây thân gỗ thuộc về họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và là thành viên có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea. Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất lỏng chiết ra tựa nhƣ nhựa cây của nó (gọi là mủ) có thể đƣợc thu thập lại nhƣ là nguồn chủ lực trong sản xuất cao su tự nhiên. Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mƣa Amazon, cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ƣớt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè. Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo Thổ ngữ Mainas nghĩa là "Nước mắt của cây" (cao là gỗ, Uchouk là chảy ra hay khóc).
Cây Cao su đƣợc ngƣời Pháp đƣa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vƣờn thực vật Sài Gòn năm 1878 nhƣng không sống. Đến năm 1892, 2000 hạt Cao su từ Indonesia đƣợc nhập vào Việt Nam. Trong 1600 cây sống, 1000 cây đƣợc giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dƣơng), 200 cây giao cho bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dầu (cách Nha Trang 20 km).Năm 1897 đã đánh dấu sự hiện diện của cây Cao su ở Việt Nam. Cây Cao su là cây đa tác dụng vừa thực hiện nhiệm vụ của những cánh rừng phòng hộ, phòng chống thiên tai, bảo vệ đất, chống xói mòn, đồng thời giúp cải thiện khí hậu.
Sản phẩm chính từ cây Cao su là mủ và chúng mang lại giá trị kinh tế cao. Ngoài ra, gỗ cây Cao su cũng là nguồn cung cấp nguyên liệu quý báu cho ngành công nghiệp gỗ. Cao su đã khẳng định đƣợc vị thế là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Gỗ từ cây Cao su, đƣợc sử dụng trong sản xuất đồ gỗ.
Nó đƣợc đánh giá cao vì có thớ gỗ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn và có thể chấp nhận các kiểu hoàn thiện khác nhau. Nó cũng đƣợc đánh giá nhƣ là loại gỗ "thân thiện môi trƣờng", do ngƣời ta chỉ khai thác gỗ sau khi cây Cao su đã kết thúc chu trình sản sinh nhựa mủ. 1 Do giá trị kinh tế cao dẫn đến sự phát triển Cao su ồ ạt của ngƣời dân, thay thế các loài cây trồng khác sang cây Cao su. Sự phát triển không có kiểm soát này dẫn đến phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực nhƣ giống cây, thuốc bảo vệ thực vật và dịch sâu bệnh hại trên cây Cao su.
Cao su là loài cây ít bị sâu hại tấn công, tuy nhiên chúng ta không nên lơ là công tác phòng trừ sâu hại cây Cao su, đặc biệt là đối với khí hậu nƣớc ta nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nên chịu ảnh hƣởng lớn từ dịch sâu hại. Khu vực xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị có diện tích trồng Cao su tƣơng đối lớn, có thể nói cây Cao su là nguồn thu nhập chính của ngƣời dân. Hiện nay, cây Cao su trở thành một trong những đối tƣợng phá hoại của các loài sâu hại, tuy nhiên ở đây lại không có cơ quan nào nghiên cứu về dịch sâu hại cây Cao su nên việc phòng trừ và quản lý chúng gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc xây dựng, hƣớng dẫn ngƣời dân phòng trừ sâu bệnh hại đóng vai trò rất quan trọng trong công tác trồng rừng và quản lý sâu bệnh hại hiệu quả.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó và muốn góp phần vào công tác quản lý bảo vệ rừng của địa phƣơng, nhằm ngăn chặn dịch sâu hại, nghiên cứu một số loài sâu hại chính để xây dựng phƣơng án phòng trừ sâu hại, tôi tiến hành nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu thành phần và đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại cây Cao su (Hevea brasiliensis) tại xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” 2 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGIÊN CỨU 1. Sơ lƣợc về cây Cao su Cao su (Hevea brasiliensis), là một loài cây thân gỗ thuộc về họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và là thành viên có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea. Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất lỏng chiết ra tựa nhƣ nhựa cây của nó (gọi là mủ).
Cây cao su có thể cao tới trên 30m. Nhựa mủ màu trắng hay vàng có trong các mạch nhựa mủ ở vỏ cây, chủ yếu là bên ngoài libe. Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo hƣớng tay phải, tạo thành một góc khoảng 30 độ với mặt phẳng. Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì ngƣời ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ, các vết rạch vuông góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây tổn hại cho sự phát triển của cây, và nhựa mủ đƣợc thu thập trong các thùng nhỏ.
Quá trình này gọi là cạo mủ cao su. Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhƣng chúng sẽ ngừng sản xuất nhựa mủ khi đạt độ tuổi 26-30 năm. Cây cao su chỉ đƣợc thu hoạch 9 tháng, 3 tháng còn lại không đƣợc thu hoạch vì đây là thời gian cây rụng lá, nếu thu hoạch vào mùa này, cây sẽ chết. Thông thƣờng cây cao su có chiều cao khoảng 20m, rễ ăn rất sâu để giữ vững thân cây, hấp thu chất bổ dƣỡng và chống lại sự khô hạn.
Cây có vỏ nhẵn màu nâu nhạt. Lá thuộc dạng lá kép, mỗi năm rụng lá một lần. Hoa thuộc loại hoa đơn, hoa đực bao quanh hoa cái nhƣng thƣờng thụ phấn chéo, vì hoa đực chín sớm hơn hoa cái. Quả cao su là quả nang có 3 mảnh vỏ ghép thành 3 buồng, mỗi nang một hạt hình bầu dục hay hình cầu, đƣờng kính 02 cm, có hàm lƣợng dầu đáng kể đƣợc dùng trong kỹ nghệ pha sơn.
Cây phát triển tốt ở vùng nhiệt đới ẩm, có nhiệt độ trung bình từ 22 °C đến 30 °C (tốt nhất ở 26 °C đến 28 °C), cần mƣa nhiều (tốt nhất là 2.000 mm) nhƣng không chịu đƣợc sự úng nƣớc và gió. Cây cao su có thể chịu đƣợc nắng hạn khoảng 4 đến 5 tháng, tuy nhiên năng suất mủ sẽ giảm. 3 Cây chỉ sinh trƣởng bằng hạt, hạt đem ƣơm đƣợc cây non. Khi trồng cây đƣợc 5 tuổi có thể khai thác mủ, và sẽ kéo dài trong vài ba chục năm.
Việc cạo mủ rất quan trọng và ảnh hƣởng tới thời gian và lƣợng mủ mà cây có thể cung cấp. Bình thƣờng bắt đầu cạo mủ khi chu vi thân cây khoảng 50 cm. Cạo mủ từ trái sang phải, ngƣợc với mạch mủ cao su. Độ dốc của vết cạo từ 20 đến 35°, vết cạo không sâu quá 1,5 cm và không đƣợc chạm vào tầng sinh gỗ làm vỏ cây không thể tái sinh.
Khi cạo lần sau phải bốc thật sạch mủ đã đông lại ở vết cạo trƣớc. Thời gian thích hợp nhất cho việc cạo mủ trƣớc 7 giờ sáng. Gỗ từ cây Cao su, đƣợc sử dụng trong sản xuất đồ gỗ. Nó đƣợc đánh giá cao vì có thớ gỗ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn và có thể chấp nhận các kiểu hoàn thiện khác nhau.
Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây Cao su 1. Trên Thế giới Cao su đƣợc biết đến là một trong những loài cây ít bị sâu bệnh hại tấn công so với các loài cây khác nhƣ: Bạch đàn, Keo tai tƣợng,…Tuy nhiên sau một thời gian dài canh tác cùng với phƣơng pháp trồng tập trung trên diện tích lớn trong vùng có độ ẩm và nhiệt độ cao, các loại bệnh và côn trùng dần xuất hiện và gây thiệt hại không nhỏ. Trong những thập niên vừa qua, sản lƣợng cao su không ngừng đƣợc cải thiện qua những tiến bộ trong công tác cải tiến giống, kỹ thuật nông nghiệp…, nhƣng thiệt hại do sâu bệnh cũng gia tăng đáng kể do công tác tạo tuyển giống thƣờng chú trọng vào chỉ tiêu sinh trƣởng và sản lƣợng. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, nhiều nhà nghiên cứu về sâu bệnh đã bắt đầu đi sâu nghiên cứu về vấn đề sâu bệnh hại cho cây Cao su.
Các nhà nghiên cứu nhƣ: Chee (1976), Xiaoqing (1979), Liu Gongmin (2010), Pang Qihong (2010)… Theo Chee (1976), cây Cao su bị trên 550 loài vi sinh vật tấn công, trong đó 24 loài có tầm quan trọng về kinh tế, tuy nhiên mức độ thiệt hại còn tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và canh tác cũng nhƣ biện pháp phòng chống trong từng vùng. 4 Năm 1979, Xiaoqing đã có nghiên cứu đề cập tới vấn đề “ Phòng trừ và phân bố các loại bệnh hại cây Cao su” và đã thống kê đƣợc 12 loại bệnh chủ yếu và đề xuất đƣợc các biện pháp phòng trừ nhƣ: dùng thuốc hóa học, tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, định kỳ điều tra giám sát và vệ sinh xung quanh cây cao su. Ở Trung Quốc có khoảng 91 đối tƣợng gây hại trên cây Cao su (Liu Gongmin, 2010), thuộc 11 bộ, 3 lớp. Trong đó, sâu hại có 7 loài và và gây hại nghiêm trọng có 4 loài là: Rệp sáp (Parasaissetia nigra Nietner), Mọt nhỏ, Mối, Nhện (Eotetranychus sexmaculatus Riley); bệnh hại thì có 53 loài, có 10 loại bệnh gây hại nghiêm trọng là: bệnh phấn trắng, bệnh khô cành ngọn, bệnh tím rễ… Trên cơ sở phân tích mức độ gây hại của các loài sâu bệnh hại chủ yếu, đã đề xuất các biện pháp phòng trừ nhƣ: định kỳ điều tra sâu bệnh hại, kết hợp hợp lý việc cạo mủ và thực hiện biện pháp phòng trừ bằng thuốc hóa học.
Nhƣ vậy ta thấy rằng, tình hình nghiên cứu về vấn đề sâu bệnh hại cây Cao su trên thế giới vẫn còn rất khiêm tốn, những nghiên cứu này chỉ đi sâu vào xác định thành phần loài sâu hại cao su là chủ yếu mà chƣa tập trung vào các biện pháp phòng trừ, đặc biệt là biện pháp phòng trừ tổng hợp. Nghiên cứu thành phần sâu bệnh và biện pháp phòng trừ Vấn đề nghiên cứu về sâu bệnh hại cây Cao su đã đƣợc chú trọng hơn trong những năm gần đây. Hiện nay đã có một số nghiên cứu cơ bản về vấn đề này nhƣ nghiên cứu của Nguyễn Hải Đƣờng (1997), Phan Thành Dũng (2003)… từ đó đƣa ra đƣợc các biện pháp phòng trừ có hiệu quả. Năm 1997, Nguyễn Hải Đƣờng đã nghiên cứu thống kê đƣợc 24 loại bệnh (bệnh phấn trắng, bệnh héo đen đầu lá, bệnh rụng lá mùa mƣa, bệnh Corynespora…) gây hại cho cây Cao su ở Việt Nam.