Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lược sử nghiên cứu chim ở Việt Nam Việt Nam là một trong các nước có khu hệ chim phong phú và đa dạng ở Đông Nam Á. Lịch sử nghiên cứu chim ở Việt nam có thể chia thành hai giai đoạn chính: trước năm 1975 và sau năm 1975. Giai đoạn trước năm 1975 Trong giai đoạn này, các nghiên cứu chim đầu tiên ở Việt Nam đều do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện.
Loài Gà rừng Gallus gallus là loài chim đầu tiên được nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu bản mẫu thu được ở Côn Đảo và được nhà sinh vật học Linnaeus mô tả vào giữa thế kỷ XVIII. Sau đó 30 năm, năm 1789 Gmelin mô tả loài chim thứ hai bắt được ở Đông Dương, đó là loài Chim xanh Nam bộ Chloropsis cochinchinensis. Vào khoảng giữa thế kỷ XIX, một vài loài chim nữa ở Đông Dương được mô tả thêm. Sau khi xâm chiếm miền Nam, người Pháp bắt đầu chú ý đến việc nghiên cứu thiên nhiên vùng này.
Thời gian đầu họ không tổ chức một cuộc sưu tầm nào lớn, nhưng từ năm 1862 đến năm 1874 nhiều đợt nghiên cứu chim khá qui mô do các nhà tự nhiên học nghiệp dư tiến hành, đã sưu tầm một số lượng mẫu vật rất lớn và được chuyển về Pháp để xác định. Từ những năm 1874 đến 1903, M.Oustalet cho xuất bản công trình: “Chim Campuchia, Lào, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam”. Từ năm 1905 đến 1907, Oustalet và Gmelin cho xuất bản tập “ Danh sách Chim miền Nam Nam Bộ”. Vào thời gian đó, Bắc Bộ Việt Nam có Butan tổ chức sưu tầm chim và kết quả được công bố trong tập “ Mười năm nghiên cứu động vật”.
Tác giả đã ghi nhận được 90 loài và một số dẫn liệu về sinh học của một số loài. Năm 1918, cuộc sưu tầm chim dưới sự chỉ đạo của Boden Kloss, với kết quả thu được là 1. Kết quả này LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 được Robinson và Kloss thông báo trong tập: “ Chim Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam”. Công trình này ghi nhận 235 loài và loài phụ trong đó có 34 dạng mới cho khoa học.
Trong khoảng thời gian đó, nhà điểu học người Nhật Bản Kuroda phân tích bộ sưu tập chim do S.Txikia đã ghi nhận được 130 loài và loài phụ. Công trình tổng hợp về “Chim Đông Dương” gồm 4 tập với 954 loài và phân loài. Năm 1951, danh sách chim Đông Dương được Delacour bổ sung hoàn thành và công bố gồm 1.085 loài và phân loài. Trong giai đoạn này đáng chú ý là năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đánh dấu mốc khởi đầu hoạt động nghiên cứu chim của các nhà khoa học Việt Nam.
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, nghiên cứu chim ở các tỉnh phía nam được tiếp tục bởi các nhà khoa học Việt Nam. Một số chương trình điều tra tổng hợp về tài nguyên sinh vật trong đó có chim đã được tiến hành như: chương trình điều tra tổng hợp tài nguyên sinh vật đồng bằng sông Cửu Long, chương trình điều tra tổng hợp Tây Nguyên 1 và Tây Nguyên 2. Đặc biệt là chương trình điều tra tổng hợp nghiên cứu giữa Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật với Viện Hình thái tiến hoá Mátsơ cơva, Viện Động Vật Lêningrat (Viện Hàn lâm khoa học Nga). Trong nhiều năm, các nhà khoa học Việt Nam và Nga đã phối hợp khảo sát nghiên cứu về động vật, trong đó có chim tại trạm nghiên cứu rừng nhiệt đới Kon Hà Nừng, tỉnh Gia Lai.
Công trình về chim trong giai đoạn này đáng chú ý là cuốn sách “Chim Việt Nam, Hình thái và phân loại” tập I (1975) và Tập II (1981) của Võ Quý. Sau nhiều năm điều tra, khảo sát, danh sách chim Việt Nam từ 773 loài (Võ Quý, 1983) đã lên tới 828 loài (Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995). Một số loài chim quý hiếm, đặc hữu được nghiên cứu và tái phát hiện như: Sếu cổ đỏ (Grus antigone), Gà lôi lam mào đen (Lophura imperialis ), Gà lôi làm mào trắng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số loài mới cho khoa học đã được công bố Gà lôi làm đuôi trắng (Lophura hatinhensis), Khướu ngọc linh (Garrulax ngoclinhensis), Khướu vằn đầu đen (Actinodura sodangorum), Khướu kon ka kinh (Garrulax konkakinhensis).
Điều đó cho thấy mặc dù công tác nghiên cứu chim đã tiến hành một thế kỷ nay, nhưng vẫn còn các phát hiện mới về khu hệ chim cần khám phá ở các vùng miền khác nhau ở Việt Nam. Giới thiệu các sân chim, vườn chim ở Việt Nam Hệ thống sân chim, vườn chim thực ra đã có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu trên mọi vùng miền trong cả nước. Các vườn chim có lịch sử hình thành và diện tích không giống nhau, một số chỉ bó hẹp trong phạm vi từ 1-3 ha thường gọi là vườn chim, số khác rộng đến 5 - 10 ha hoặc hàng trăm ha và gọi là sân chim như sân chim Bạc Liêu. Các sân chim, vườn chim được hình thành là do nhiều loài chim nước có tập tính làm tổ tập đoàn tụ tập sinh sống.
Tại các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, những năm trước đây đã có trên 30 vườn cò [9]. Đó là vườn chim ở Thới An (Cần Thơ), Duyên Hải và Trà Cú (Trà Vinh), Cái Bẹ (Cà Mau), Vàm Hồ (Bến Tre) và Đầm Dơi (Cà Mau). Một số sân chim đã được nghiên cứu là sân chim Duyên Hải, sân chim Bạc Liêu, sân chim Cà Mau, sân chim Thới An, sân chim Trà Cú, sân chim Chùa Hang, sân chim Vàm Hồ. Nhiều nghiên cứu bước đầu về các loài chim ở các sân chim vùng này đã được một số tác giả công bố.
Các nghiên cứu này bước đầu đã xác định được khoảng 20 loài chim nước làm tổ tập đoàn các sân chim như Cò trắng, Cò ngàng nhỡ, Cò ruồi, Cốc đế. Có một số loài có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tên trong Sách Đỏ Việt Nam ( 2007) như loài Quắm đầu đen. Số lượng cá thể các loài ở các sân chim có thể lên đến vài chục ngàn con. Ở miền Đông Nam Bộ, tại khu vực cửa khẩu Mộc Bài, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, Tây Ninh, từ năm 2005, đàn cò trắng ước tính hàng ngàn con bay về trú ngụ trong khu rừng tràm nước rộng khoảng 600 ha [9].
Ở miền Nam Trung bộ có thể kể đến vườn cò của gia đình ông Nguyễn Văn Hưng, thôn Vĩnh Xuân, xã Vĩnh Thái (Nha Trang) với hàng ngàn cá thể bay đi, bay về trong vườn. Nghiên cứu về các loài chim di cư vùng châu thổ sông Hồng, tập trung nhiều vào các loài chim di cư có công trình của Pedersen và cộng sự (1996). Ở miền Bắc, cũng tập trung một số vườn chim như vườn chim Ngọc Nhị (Hà Tây), vườn chim Núi Đấu (Hải Phòng), vườn chim Hải Lựu (Vĩnh Phúc), đảo Cò Chi Lăng Nam (Hải Dương), vườn cò Đông Xuyên (Bắc Ninh)[9]. Nghiên cứu tại vườn chim Ngọc Nhị, Nguyễn Lân Hùng Sơn (1999) đã xác định có 55 loài chim thuộc 30 họ, 10 bộ, trong đó có 5 loài chim nước làm tổ tập đoàn tại vườn Cò bợ, Cò trắng, Cò ngàng nhỏ, Cò ruồi,Vạc [18].
Nghiên cứu ở vườn chim Đạo Trù (Vĩnh Phúc), Hoàng Thị Luyến (2008) đã xác định có 44 loài chim thuộc 7 bộ, 19 họ, với các loài chim nước xuất hiện ở vườn là Cò trắng, Cò ngàng nhỏ, Cò ruồi, Cò bợ, Cò xanh, Vạc. Quan Thị Dung (2008) khi nghiên cứu ở vườn chim Hải Lựu, Lập Thạch, Vĩnh Phúc đã xác định được 40 loài chim, thuộc 21 họ, 6 bộ [9]. Trần Thị Miên (2008) [9], nghiên cứu tại vườn chim Chi Lăng Nam (Hải Dương), đã thống kê được 12 bộ, 30 họ và 51 loài. Tác giả cũng đã bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim nước của khu vực về: biến động số lưọng, phân bố, thức ăn, mùa sinh sản.vv Như vậy, những nghiên cứu về các vườn chim chưa nhiều, một số vườn chim chưa được nghiên cứu kỹ và chưa có sự quan tâm thích đáng để bảo tồn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 các loài chim này.
Do đó cần tiếp tục có những nghiên cứu thêm về đặc điểm sinh học, sinh thái của từng loài, đặc điểm tự nhiên của từng vườn chim để đưa ra biện pháp bảo tồn và phát triển hợp lý các vườn chim. Quá trình hình thành và phát triển của vườn chim Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội Ba Vì là một huyện của thành phố Hà Nội, có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có giá trị lớn về kinh tế và khoa học nhất là về cảnh quan môi trường. Phục vụ phát triển du lịch sinh thái trong những năm gần đây, ở Ba Vì đã hình thành một cụm cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn nhiều khách tham quan, nghỉ ngơi và giải trí. Đó là VQG Ba Vì, hồ Suối Hai, Ao Vua, thác Hương, rừng thông Đá Chông, khu du lịch Đầm Long… Đặc biệt vườn chim Ngọc Nhị ở thôn Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh đã thu hút nhiều khách tới tham quan.
Vườn chim được hình thành chính thức bắt đầu từ năm 1975, trước đó vào năm 1972 có một vài đôi Cò trắng, Cò ngàng, Vạc bay đến làm tổ ở hai quả đồi khu vực xã Cẩm Lĩnh. Ở quả đồi Rận phía Bắc, chúng bị những nhà dân ở đây săn bắt, riêng quả đồi Đưng ở phía Nam là đất của gia tộc anh Phùng Đoài Học, chim được bảo vệ tốt. Tổng diện tích vườn chim sau khi được mở rộng cho đến nay là 10,6 ha. Từ vài cặp bay đến làm tổ, đến nay số lượng cá thể của loài chim làm tổ tập đoàn ở vườn chim vào mùa sinh sản khi nhiều nhất tới 6000 - 7000 cá thể.
Việc nghiên cứu sinh thái, sinh học của các loài chim làm tổ ở vườn là cần thiết để làm cơ sở khoa học cho việc bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững vườn chim. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu chim ở vườn chim Ngọc Nhị Trong những năm gần đây, vườn chim Ngọc Nhị đã được một số nhà khoa học và sinh viên đến nghiên cứu. Năm 1991, Nguyễn Ngọc Chính khi nghiên cứu khu hệ chim ở đây đã ghi nhận được 17 loài trong đó có 9 loài cò với số lượng vào khoảng 5.
Năm 1992, Đỗ Tước ghi nhận được 6 loài cò có số lượng khoảng 1.