ĐẶT VẤN ĐỀ: Đường Hồ Chí Minh là con đường thứ hai chạy từ Bắc vào Nam Việt Nam, dài khoảng 3. 167km, chủ yếu dựa trên nền đường Trường Sơn năm xưa, và nâng câp mở rộng một sô tỉnh lộ, quôc lộ cũ và thi công nhiều đoạn đường mới tránh các khu dan cu. Ngày 5 tháng 4 năm 2000, đường Hồ Chi Minh khởi công xây dựng giai đoạn 1 (2000 - 2006), đoạn từ Bình Phước đến Hòa Lạc (Hà Nội) dài khoảng 1. Năm 2006 đã tiến hành nghiệm thu cơ sở được 1.234,5 km đường, 261 cầu, 2 hầm và 2 nhà hạt.
Vào những tháng đầu năm 2007, các đơn vị thi công các đoạn Hoà Lạc - Xuân Mai thuộc Hà Nội (dài 13km), Hà Nội - Hòa Bình và đoạn qua Vườn Quốc gia Cúc Phương, phan thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa (dài 93 km đường, 2 cầu lớn, 22 cầu trung và 6 câu cạn), đoạn Ngọc Hồi - Tân Cảnh thuộc tỉnh Kon Tum (dài 22 km) và đường ngang nôi cảng Nghi Sơn với đường Hồ Chí Minh (dài 54km). Theo nhận định của Ban Quản lý du án đường Hỗ Chí Minh, đến cuối tháng 6 - 2007, toàn bộ tuyến đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 sẽ được hoàn tất và tiến hành nghiệm thu cấp Nhà nước. Đến 30 tháng 4 năm 2008, Đường Hồ Chí Minh trên phân giai đoạn 1 đó thông tuyên [49]. Giai đoạn 2 thi công phần từ Pắc Pó (Cao Bằng) đến Hòa Lạc và phản từ Bình Phước đến đất mũi Cà Mau [49].
Tuyến đường Hồ Chí Minh nối liền từ Bắc vào Nam, di qua nhiều địa hình hiểm trở, núi cao, đèo dốc, nhiều vùng còn hoang sơ, qua nhiều bản làng hẻo lánh. Nơi có tiêm ẩn những dịch bệnh nguy hiểm do các chân đốt y học truyền như bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, dịch hạch, sốt mò v. Các bệnh đó có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của cộng đồng dân cư địa phương và công nhân xây dựng tuyến đường. Ngoài ra, còn một số côn trùng hút máu, thường xuyên quấy rầy và gây nguy hiểm cho con người như ruồi vàng, bọ xít, bọ cạp.
Do điều kiện địa hình và điều kiện chiến tranh, nên trước đây còn ít được nghiên cứu về thành phần loài và phân bố chân đốt y học trên đường Truong Son. Vi vay, việc tiến hành điều tra nghiên cứu về thành phần loài và phân bố một số nhóm chân đốt y học trên tuyến đường Hồ Chí Minh hết sức cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn và khoa học. Trước hết, phát hiện những loài có vai trò truyền bệnh. Về lau dài, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học để đự báo tình hình dịch bệnh do chân đốt truyền, từ đó dé xuất những biện pháp phòng chống phù hợp, nhằm góp phần làm giảm nhẹ dịch bệnh bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng các dân tộc sinh sống và khách tham quan, du lịch qua lại trên đường Hồ Chí Minh.
Năm 2002 - 2005, chúng tôi đã tiến hành điều tra nghiên cứu chân đốt y học ở 21 điểm trên tuyến đường Hồ Chí Minh, đoạn từ Ngọc Hồi (Kon Tum) đến Thạch Thành (Thanh Hoá) đi qua địa bàn 19 huyên, 8 tỉnh. Đã phát hiện được 182 loài chân đốt y học thuộc 49 giống, 15 họ, 3 bộ, 2 lớp; trong đó 23 loài có vai trò truyền bệnh nguy hiểm cho người như địch hạch, sốt rét, sốt xuất huyết, sốt mò. Giả thiết nghiên cứu Giả thiết rằng, hiện nay do điều kiện môi trường dọc tuyến đường HCM đã thay đổi nhiều, theo hướng bất lợi cho sự bền vững của môi trường sinh thái, khu hệ động thực vật hoang đại giảm dần, có nhiều nơi đã cạn kiệt, nhưng dân số tăng số lượng kèm theo gia tăng sự tác động của con người đến môi trường; động vật nuôi (gia súc, gia cầm) tăng; điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến thành phần loài và phân bố của khu hệ chân đốt y học ở đây. Để đáp ứng kịp thời những thông tin về thành phần loài và phân bố chân đốt y học cho việc thi công tuyến đường này giai đoạn ÏÏ; từ năm 2006 - 2008, được sự đồng ý của Lãnh đạo Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra thành phần loài và phân bố chân đốt y học tại một số điểm dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, đoạn từ tỉnh Ninh Bình đến Cao Bằng” 1.
Mục tiêu của đề tài: 1.1 Xác định thành phân loài chân đốt y học tại một số điểm dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, đoạn từ Ninh Bình - Cao Bằng. Xác định mật độ, phân bố của những loài chân đốt có vai trò truyền bệnh tại các điểm nghiên cứu dọc truyến đường Hồ Chí Minh, đoạn từ Ninh Bình - Cao Bằng. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 2. Tình hình nghiên cứu chân đốt y học ở ngoài nước Chân đốt y học bao gồm các nhóm thuộc lớp nhện (Arachnida) va lớp côn trùng (Insecta).
Các chân đốt y hoc lớp nhện (Arachmida) chủ yếu thuộc bộ ve bét (Acarina) như: Ve (Ixodoidae), mò (Trombiculidae), mạt (Gamasoidea) và ghẻ (Sarcoptoidea). Đó là những chân đốt có đời sống ký sinh bên ngoài cơ thể (ngoại ký sinh) động vật và người, chúng có ý nghĩa quan trọng về y học và thú y, nhiều loài là véc tơ của dịch bệnh ở người và động vật. Các chân đốt y học lớp côn trùng (Insecta) có vai trò truyền bệnh cho người thuộc bộ bọ chét (Siphonaptera) và bộ hai cánh (Diptera), chủ yếu thuộc họ muỗi (Culicidae) và ruồi (Brachycera). Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nhóm chân đốt này.
Ve (Ixodoidea): Người ta đã phát hiện được vai trò truyền bệnh của ve từ trước công nguyên, nhưng mãi đến năm 1746 mới được Linnae nghiên cứu. Ông đã phân loại và xác định tén khoa hoc cho loai Ixodes ricinus, Hyalomma aegyptium. nhưng chưa sắp xếp thành hệ thống. Sang thế kỹ 19, Late (1804), Hermamn (1804), Leach (1815), Von Heyden (1826) v.
mới phân chia thành một số giống, họ. Cho đến nay, trên thế giới đã phát hiện được 750 loài thuộc họ ve cứng (ïxodidae) và hơn 100 loài thuộc họ ve mềm (Agasidae) (Phan Trọng Cung, Đoàn Văn Thu, 2001)"'3), Các loài ve là vật chủ trung gian hoặc vật môi giới lan truyền các mầm bệnh ký sinh trùng hoặc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, gia súc, gia cầm và các động vật hoang dã như: bệnh sốt Q; bệnh Lyme; bệnh sốt phát ban do Rickettsia trong ve Rhipicephalus sanguineus, Rh. australis; bệnh Tularaemia; bệnh viêm não virus đo ve truyền (bệnh này thấy ở Liên Xô cũ, Trung Âu); bệnh sốt xuất huyết Crimia - Congo và các bệnh virus khác!'?. Mạt (Gamasoidea): Đầu thế kỷ 20, người ta mới phát hiện ra mạt đốt người và gây viêm da, sau đó phát hiện mạt có vai trò truyền một số virus.
Từ năm 1940 trở lại đây, Nga bắt đầu nghiên cứu các ổ bệnh thiên nhiên. Sau năm 1950 có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại mạt Ở các nước trên thế giới. Đáng chú ý các công trình nghiên cứu của Baker & Wharton (1952), Krantz (1960), Strandtmamn (1963), Perova (1966, 1974), Bregetova & Vainstein (1977). Cho đến nay, trên thế giới có khoảng 914 loài, thuộc 112 gống, 13 họ (Balasov, 1982), Pavlovski (1949) đã khẳng định “ Mạt là trung tâm truyền các bệnh có tính chất ổ dịch thiên nhiên ”.
Đó là những ổ chứa các mầm bệnh, đồng thời cũng là những vật môi giới lan truyền mầm bệnh. Cho đến nay người ta đã biết có khoảng 35 loài mạt có liên quan tới bệnh tật. Trong số đó có 15 loài thuộc giống Dermanyssus, LŨ loài thuộc giống Laelaps, 5 loài thuộc giống Pneumanyssus. Bệnh viêm da (dermatis) liên quan với các loài Dermanyssus gallinae, Ornithonyssus bursa, Ó.
Bệnh viêm não ngựa Miền Tây liên quan với loài Ó. Bệnh viêm não rừng liên quan với loài Euilaelaps stabularis. Bệnh đậu do Rickerrsia liên quan với loài Ó. Bệnh sốt phát ban liên quan với Ó.
bacoti và Laelaps echidninux. Bệnh sốt Q, bệnh dịch hạch liên quan với loài Ó. Loài mò dau tién 1a Acarus batatas L., 1758; tiếp đến có các công trình của Ewing (1929), Wharton & Fuller (1951, 1952), Audy (1953), Brennan và Jameson (1959), Tamiya (1962), Cù Phong Y (1967) v. Nadchatram và Dohany (1974).
Đến năm 1974, trên thế giới có khoảng 1900 loài thuộc họ Trombiculidae đã công bố. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có khoảng 600 loài, trong đó vùng Đông Nam Á có 350 loài Z8! Nhưng đến năm 1977, Brennan và Goff đã thông báo trên thế giới đã phát hiện được 3000 loài. Nhật Bản đã công bố 73 loài, 11 giống (Takeo Tamiya, 1962). Thái Lan gồm 121 loài, 27 giống, (Panita Lakshana, 1973).
Trung Quốc 131! loài, 14 giống (Cù Phong Y, 1967; Wen Tin - Whan (1978). Tại Lào đã phát hiện được 53 loài, thuộc 15 giống (Nadchatram và Dohany, 1964). Hiện nay, số lượng loài mò trên thế giới đang tiếp tục được phát hiện bổ sung. Mò truyền một số bệnh sang người, nguy hiểm nhất là bệnh sốt md (Tsutsugamushi), hay sốt bụi rậm, sốt triển sông Nhật Bản.
Mầm bệnh là Rickettsia tsutsugamushi hay R. Bénh phổ biến ở các nước Châu Á - Thái Bình Dương. Ngoài ra mò còn truyền một số bệnh khác như sốt Q., sốt phát ban chuột, bệnh viêm thận do siêu vị trùng, bệnh Plat-ma, bệnh viêm não rừng v. ở nhiều nước (Kulagin và Tarashevich, 1972)!1, Bọ chét (Siphonaptera): Năm 1758, lần đầu tiên Linnae phát hiện được 2 loài bọ chét là Pulex linnae (=Pulex irritans ) và Pulex penetrrans.
Năm 1880, trong tài liệu chuyên khảo của Taschenberg ghi nhận 34 loài bọ chét đã được phát hiện trên thế giới. Năm 1894, Yersin và Kitasato đã phân lập được vi khuẩn dịch hạch trên người ở Hồng Kông, và sau đó xác định vai trò trung gian truyền địch hạch của bọ chét. Từ đó hàng trăm công trình nghiên cứu về phân loại, hình thái và sinh thái học của bọ chét trên khắp thế giới xuất hiện. Do vậy, đến năm 1953 trên thế giới số lượng loài bọ chét đã phát hiện được tăng lên rất nhanh, có khoảng 1 350 loài và phân loài.
Năm 1966 số loài bọ chét đã được phát hiện lên tới khoảng I 830 loài thuộc l6 họ. Đến năm 1971, Hopkin và Rothschild đã thống kê được 242 giống và phân giống?”, Cho đến nay, trên thế giới đã phát hiện được 2 000 loài 16 họ (Balasov, 1982)! Theo Rann (1960), trên thế giới có 124 loài bọ chét có khả năng truyền bệnh dịch hạch, Họ muỗi (Cuiicidae): Đã có hàng ngàn công trình nghiên cứu, điển hình như công trình của Belkin (1962)”, công bố khu hệ muỗi Nam Thái Bình Dương; Sirivanakarn S.