ĐẶT VẤN ĐỀ Muỗi Culicinae có thành phần loài khá phong phú, chúng phân bố rộng ở khắp nơi trên thế giới. Sự hiện diện các loài thuộc nhóm côn trùng này có khả năng truyền bệnh ở các địa phương là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ dịch xảy ra khi có xuất hiện hoặc lưu hành nguồn bệnh. Hiện nay một số bệnh do virus được xác định là do vector truyền như bệnh sốt Dengue / sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD), viêm não Nhật Bản (VNNB). trong đó bệnh Viêm não Nhật Bản có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ cộng đồng ở nhiều quốc gia và khu vực.
Trên thế giới bệnh viêm não Nhật Bản đã biết từ năm 1871, bệnh lưu hành ở vùng Châu Á, Thái Bình Dương. Tại Việt Nam, từ năm 1959 đã phát hiện được hội chứng viêm não ở trẻ em, bệnh đã xảy ra trên địa bàn rộng và trong nhiều năm nay[28]. Tây Nguyên có địa hình phức tạp, khu hệ động vật, thực vật phong phú nhất cả nước, khí hậu và thời tiết thuận lợi cho sự lưu hành nhiều loại dịch bệnh do muỗi truyền như bệnh sốt rét, bệnh sốt xuất huyết, và gần đây là bệnh viêm não Nhật Bản. Trong các năm 2000-2001, trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên có nhiều trường hợp có hội chứng não cấp trong đó đã xác định được 21 trường hợp VNNB, phân bố rải rác trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 10, tại tỉnh Gia Lai, Kon Tum và Đắk Lắk[7].
Từ đó đến nay, hàng năm bệnh viêm não Nhật Bản vẫn được ghi nhận ở một số địa phương của các tỉnh trong khu vực. Theo số liệu điều tra của Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, từ năm 2002 đến 2005 trên địa bàn Tây Nguyên đã phát hiện được trên 283 trường hợp do viêm não trong đó có 50 trường hợp tử vong. Đặc biệt ở tỉnh Gia Lai đã phát hiện được 46 trường hợp viêm não Nhật Bản từ 74 bệnh phẩm từ bệnh nhân có hội chứng não cấp (HCNC), bằng kỹ thuật MAC- 5 ELISA. Đồng thời, đã phân lập được 6 chủng virus Nam Định từ các loài muỗi: Culex gelidus, Culex vishnui, Culex tritaeniorhynchus và Culex fuscocephala.
Những năm gần đây đã có một số công trình điều tra nghiên cứu về vector truyền bệnh cũng như điều tra nghiên cứu tình hình dịch tễ bệnh viêm não Nhật Bản ở khu vực Tây Nguyên và đã được công bố như công trình nghiên cứu “Điều tra khu hệ côn trùng y học ở Tây Nguyên” của Đặng Tuấn Đạt, Nguyễn Ái Phương, Lý Thị Vi Hương [3]; “Điều tra cơ bản muỗi Culicinae ở Việt Nam” của nhóm tác giả: Vũ Đức Hương, Nguyễn Thị Hoà, Đỗ Thị Hiền, Nguyễn Thị Bạch Ngọc, Nguyễn Văn Hà, Phạm Tất Thắng, Nguyễn Thị Bích Liên, năm 1996; công trình “Giám sát, chẩn đoán viêm não Nhật Bản ở Việt Nam, 2000-2001” của nhóm tác giả: Phan Thị Ngà, Nguyễn Thị Kiều Anh, Vương Đức Cường, Vũ Sinh Nam, Phạm Thị Minh Hằng, Trần Văn Tiến, 2002. Song Tây Nguyên là một địa bàn rộng lớn, địa hình và sinh cảnh đa dạng, phức tạp, thành phần loài động vật nói chung và côn trùng nói riêng rất phong phú và khả năng truyền bệnh của chúng rất đa dạng. Đặc biệt tình hình bệnh viêm não Nhật Bản ngày càng có xu hướng gia tăng. Vì vậy việc nghiên cứu vector truyền bệnh và tình hình dịch tễ VNNB cần được tiếp tục ở các tỉnh Tây Nguyên là điều cần thiết.
Do đó, chúng tôi xây dựng và thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm sinh thái của các loài muỗi Culicinae và vai trò truyền bệnh viêm não Nhật Bản ở Tây Nguyên” với mục tiêu: 1. Xác định thành phần loài, phân bố các loài muỗi Culicinae ở khu vực Tây Nguyên. Phát hiện virus viêm não Nhật Bản trong một số loài muỗi Culex ở Tây Nguyên. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Nghiên cứu về thành phần, phân bố các loài muỗi Culicinae và khả năng truyền bệnh VNNB trên thế giới, Việt Nam và Tây Nguyên. Vật truyền bệnh hay vector Khả năng lây truyền virus VNNB qua vector được xác định bởi một số yếu tố: Vector có khả năng truyền bệnh phải là những loài muỗi cái có khả năng hút máu và trở thành muỗi bị nhiễm virus. Vector đó phải có điều kiện tốt để virus nhân lên trong nó với hiệu giá cao. Hình 1 : Muỗi Culex - vật trung gian truyền bệnh viêm não Nhật Bản Trên thế giới hiện nay đã biết 17 loài muỗi khả năng truyền virus VNNB, trong đó có khả năng truyền bệnh cao nhất.
Các loài muỗi này sinh sản ở đồng ruộng, đôi khi xa nơi ở của người, nhưng bay đến được những vùng xung quanh nhà người ở để hút máu. Muỗi Culex tritaeniorhynchus có thể bay xa 1,5 km và được phát hiện ở độ cao 13-15m so với mặt đất; đó là độ cao mà các loài chim thường trú đậu. Chính đó là điều kiện để virus VNNB có thể lây truyền giữa các loài chim. Muỗi hút máu động vật có virus, đặc biệt là lợn, chim trong thời kỳ nhiễm virus huyết, sau đó muỗi có khả năng truyền bệnh suốt đời và có thể truyền virus sang đời sau qua trứng.
Virus thường phát triển tốt trong cơ thể muỗi ở nhiệt độ 270C -300C. Nếu dưới 200C thì sự phát triển của virus dừng lại. Đó cũng là lý do thể hiện bệnh VNNB xảy ra ở những tháng nóng, ở những vùng nhiệt đới[28]. Trên thế giới: Có nhiều loài muỗi Culicinae đã được đã được xác định là trung gian truyền bệnh viêm não Nhật Bản.
Một số nước ở Đông Nam Á như Thái Lan, Singapor, Indonesia, Philippin, Malaysia việc điều tra nghiên cứu về khu hệ, sinh thái học, vai trò truyền bệnh và biện pháp phòng chống những loài muỗi Culicinae là trung gian truyền 7 bệnh VNNB đã được nhiều tác giả quan tâm như G. Chiang và CS, 1985; I. Vythilingam và CS. Chang và CS., 1993… Những loài muỗi sau đây đã được xác định là vector của bệnh viêm não Nhật Bản và đã được nhiều tác giả nghiên cứu: Culex gelidus Theobald, 1901 có thể truyền viêm não Nhật Bản ở Malaysia và Thái Lan.
Theobald 1901, đã thu thập loài muỗi này ở Taipang, Perak, Malaya and Quilon, Travancore, Ấn Độ và đặt tên là Culex cuneatus. Năm 1907,Theobald thu thập được ở Ấn Độ và Sarawak (Borneo), ông đặt tên là Culex bipunctata. Loài muỗi này phân bố ở khu vực châu Á Thái Bình Dương gồm các nước Mianma, Trung Quốc, Ấn độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Nê Pan, Niu Gui Nê, Pakixtan, Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam. Ấu trùng tìm thấy ở các loại ổ nước tạm thời khác nhau, ổ nước bán cố định và cố định như ao tù, các vũng nước nhỏ và những cống rãnh nhỏ.
Thỉnh thoảng tìm thấy ấu trùng trong các dụng cụ nhân tạo như thùng, bể chứa nước. Muỗi cái hút máu nguy hiểm, chúng ưa thích hút máu gia súc và người (Bram, 1967)[32]. Culex tritaeniorhynchus Giles, 1901 là vector chủ yếu của bệnh viêm não Nhật Bản B vùng Đông Phương (Riental region). Theobald 1905, đã thu thập loài muỗi này ở Bom Bay Ấn Độ và đặt tên là Culex biroi.
Dyar 1920, đã thu thập loài muỗi này ở Los Banos, Philippin và đặt tên là Culex summorosus. Baraud and Christophers 1931, đã thu thập loài muỗi này ở Chieng Mai, Thái Lan và đặt tên là Culex siamensis. Loài muỗi này phân bố hầu như khắp thế giới: Angôla, Camerun, Cộng Hoà Trung Phi, Dahomaey, Ai Cập, Gambia, Gha Na, Ấn Độ, Iran, Iraq, Israel, Jordan, Kenya, Lebanon, Malagasy, đảo Maldive, Mozambique, Nigeria, Nga, Arập Xê út, Senegal, Sri Lanka, Syry, Tanzania, Togo, Thổ Nhĩ kỳ, Turkmen, khu vực Châu Á Thái Bình dương. Ấu trùng tìm thấy ở nhiều loại ổ nước khác nhau, các vũng nước cố định hay bán cố định, có ánh nắng mặt trời và cây cỏ.
Nơi sống không giới hạn, gồm đầm lầy, ao tù, mương, rãnh. Muỗi cái chủ yếu hút máu các loài gia súc có sừng và lợn nhưng hút cả máu người khi thiếu gia súc (Bram,1967)[32]. 8 Culex vishnui Theobald, 1901 là vector quan trọng của bệnh viêm não Nhật Bản. Loài muỗi này phân bố khá rộng, hầu như khắp các nươc thuộc châu Á –Thái Bình Dương: Bangladesh, Mianma, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Nê Pan, Philippin, Singapo, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan, Đông Timor, Việt Nam.
Ấu trùng đặc biệt tìm thấy trong ao tù, bao gồm chỗ nước bùn, mương rãnh, ao, vũng chân gia súc, lốp bánh xe, và ở đồng ruộng mới cho nước vào và lúa mới cấy. Muỗi cái chủ yếu hút máu các loài chim và lợn, nhưng sẵn sàng hút cả máu người khi thiếu gia súc (Sirivanakarn 1976)[32]. Culex sitiens Wiedmann, 1929 có khả năng truyền viêm não Nhật Bản và nhiễm tự nhiên với giun chỉ Brugia malayi ở Thái Lan (Harbach,1988). Walker 1859, đã thu thập được loài muỗi này ở Makessar, Celebes và đặt tên là Culex impellens.
Theobald 1901, đã thu thập được loài muỗi này ở Quilon, Travancore, Madras, and Shahjahanpur provinces và đặt tên là Culex microannulatus. Nhưng năm 1901, ông thu thập được loài muỗi này ở Australia thì lại đặt tên là Culex annulirostris; năm 1903, những mẫu thu thập ở Bruas, Dindings của Malaya ông đặt tên là Culex somaliensis. Taylor 1912, 1913, 1914 đã đặt các tên khác nhau khi thu thập ở các địa phương khác nhau như: Culex saibaii, Culex paludis, Culex annulata và Culex milni. Harbach 1988, đã đặt tên là Culex mauritanicus cho những mẫu thu thập ở Taghjicht, Morocco.
Ấu trùng loài muỗi này đã tìm thấy ở môi trường nước mặn, nước lợ và nước ngọt đọng trên đất và ở những dụng cụ nhân tạo chứa nước ở vùng ven biển. Muỗi cái chủ yếu hút máu các loài chim và lợn, nhưng sẵn sàng đốt người (Harbach, 1988)[32]. Ở Việt Nam và khu vực Tây Nguyên: Đã có một số công trình nghiên cứu về khu hệ, sinh thái, dịch tễ học của muỗi Culicinae, vector của một số bệnh nguy hiểm như bệnh giun chỉ, sốt xuất huyết… của các tác giả: Vũ Thị Phan, và CS, 1975; Vũ Đức Hương và CS.,1984, 1992, 1996; Đỗ Sĩ Hiển và CS. Một số công trình đi sâu nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh lý, sinh thái của muỗi truyền bệnh viêm não ở miền Bắc Việt Nam của các tác giả: Nguyễn Thị Bạch Ngọc, Trương Quang Học, Tạ Huy Thịnh và CS.v…đã được công bố.
Những năm gần đây, các 9 công trình nghiên cứu đã quan tâm đến biện pháp phòng trừ muỗi bằng hoá chất, biện pháp sinh học, biện pháp môi trường… đồng thời tiếp tục đánh giá sự nhạy cảm của các vector với các hoá chất đang sử dụng ở Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu đó đã góp phần tích cực vào việc phòng chống các bệnh này.