Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần loài nấm lớn thuộc ngành myxomycota ascomycota basidiomycota ở núi ngọc linh tỉnh quảng nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần loài nấm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota tại núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam, cung cấp dữ liệu khoa học quan trọng.

Chuyên ngành

Thực vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

266
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của luận án

0.2. Mục đích của luận án

0.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

0.4. Những điểm mới của luận án

0.5. Tổng quan tài liệu

0.5.1. Một số hệ thống nấm chính

0.5.1.1. Hệ thống nấm theo Gaümann
0.5.1.2. Hệ thống nấm theo Ainsworth, Bisby
0.5.1.3. Hệ thống nấm “Dictionary of the fungi” của P. Kirk
0.5.1.4. Hệ thống nấm “Danh lục các loài nấm lớn ở Việt Nam” của Trịnh Tam Kiệt 2014

0.5.2. Tình hình nghiên cứu nấm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota trên thế giới

0.5.3. Tình hình nghiên cứu nấm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota ở Việt Nam

0.5.4. Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu và điều kiện tự nhiên, xã hội vùng núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Một số hệ thống nấm chính

1.1.1. Hệ thống nấm theo Gaümann (1964)

1.1.2. Hệ thống nấm theo Kreisel (1969)

1.1.3. Hệ thống nấm theo Ainsworth, Bisby (1971)

1.1.4. Hệ thống nấm “Dictionary of the fungi” của P. Kirk (2008)

1.1.5. Hệ thống nấm “Danh lục các loài nấm lớn ở Việt Nam” của Trịnh Tam Kiệt 2014

1.2. Tình hình nghiên cứu nấm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota trên thế giới và ở Việt Nam

1.3. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Địa điểm nghiên cứu

1.3.3. Thời gian nghiên cứu

1.4. Nội dung nghiên cứu

1.4.1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái, cấu trúc hiển vi một số nấm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota ở núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam

1.4.2. Xây dựng danh lục thành phần loài nấm lớn ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota ở núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam

1.4.3. Nghiên cứu đa dạng nấm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota ở núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam

1.4.4. Phân tích giá trị tài nguyên của nấm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota ở núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam

1.4.5. Xây dựng các khóa định loại đến ngành, lớp, bộ, họ chi và loài

1.4.6. Mô tả một số loài mới, loài có giá trị kinh tế và quan trọng

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.5.1. Phương pháp thu thập mẫu nấm lớn

1.5.2. Cách bảo quản nấm từ địa điểm thu thập về phòng thí nghiệm

1.5.3. Phương pháp sử lý mẫu vật

1.5.4. Phương pháp phân tích đặc điểm hình thái của mẫu nấm

1.5.5. Phương pháp phân tích cấu trúc hiển vi của mẫu nấm

1.5.6. Phương pháp xử lý mẫu nấm trên kính hiển vi điện tử (SEM)

1.5.7. Phương pháp định loại nấm

1.5.8. Phương pháp phân tích tính đa dạng của nấm

1.6. Điều kiện tự nhiên vùng núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam

1.6.1. Điều kiện tự nhiên núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam

1.6.2. Điều kiện xã hội ở núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam

1.7. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

2. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu nấm lớn tại núi Ngọc Linh Quảng Nam

Nghiên cứu này tập trung vào thành phần loài nấm lớn thuộc các ngành Myxomycota, Ascomycota, và Basidiomycota tại núi Ngọc Linh, Quảng Nam. Núi Ngọc Linh là một khu vực có hệ sinh thái đa dạng, với điều kiện khí hậu ẩm ướt, tạo môi trường lý tưởng cho sự phát triển của các loài nấm. Nghiên cứu này nhằm xây dựng danh lục thành phần loài, đánh giá tính đa dạng sinh học, và phân tích giá trị tài nguyên của các loài nấm tại đây. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện về hệ sinh thái nấm tại khu vực này, mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xây dựng danh lục thành phần loài nấm lớn tại núi Ngọc Linh, bao gồm các ngành Myxomycota, Ascomycota, và Basidiomycota. Nghiên cứu cũng nhằm đánh giá tính đa dạng sinh học và phân tích giá trị tài nguyên của các loài nấm, từ đó cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học cho việc bảo tồn và khai thác bền vững.

1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học lớn khi lần đầu tiên xây dựng danh lục thành phần loài nấm lớn tại núi Ngọc Linh. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp thông tin về các loài nấm có giá trị kinh tế, dược liệu, và môi trường, hỗ trợ cho việc phát triển bền vững tại địa phương.

II. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp thu thập mẫu nấm, phân tích hình thái và cấu trúc hiển vi, cũng như xây dựng khóa định loại. Đối tượng nghiên cứu là các loài nấm lớn thuộc ba ngành Myxomycota, Ascomycota, và Basidiomycota tại núi Ngọc Linh. Các mẫu nấm được thu thập từ các khu vực rừng nguyên sinh, nơi có điều kiện môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nấm.

2.1. Phương pháp thu thập mẫu

Các mẫu nấm được thu thập từ các khu vực rừng nguyên sinh tại núi Ngọc Linh, bao gồm cả nấm mọc trên gỗ mục, gỗ tươi, và trong đất. Mẫu nấm được bảo quản và phân tích tại phòng thí nghiệm để xác định loài.

2.2. Phương pháp phân tích hình thái và hiển vi

Các mẫu nấm được phân tích hình thái và cấu trúc hiển vi để xác định đặc điểm loài. Phương pháp này bao gồm việc quan sát cấu trúc bề mặt, màu sắc, và hình dạng của quả thể nấm, cũng như sử dụng kính hiển vi điện tử (SEM) để phân tích chi tiết.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nghiên cứu đã xác định được 300 loài nấm lớn thuộc 121 chi, 48 họ, 21 bộ, và 3 ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota tại núi Ngọc Linh. Trong đó, có 3 chi và 12 loài mới được ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam. Nghiên cứu cũng đánh giá tính đa dạng sinh học và phân tích giá trị tài nguyên của các loài nấm, bao gồm nấm ăn, nấm dược liệu, và nấm có giá trị nghiên cứu.

3.1. Đa dạng thành phần loài nấm

Nghiên cứu đã xác định được 300 loài nấm lớn, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế và dược liệu. Các loài nấm được phân bố chủ yếu trong các khu vực rừng nguyên sinh, với điều kiện môi trường ẩm ướt và giàu dinh dưỡng.

3.2. Giá trị tài nguyên của nấm

Nghiên cứu đã phân tích giá trị tài nguyên của các loài nấm, bao gồm nấm ăn, nấm dược liệu, và nấm có giá trị nghiên cứu. Các loài nấm như Ganoderma lucidumAuricularia delicata được đánh giá cao về giá trị dược liệu và kinh tế.

IV. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về thành phần loài nấm lớn tại núi Ngọc Linh, Quảng Nam. Kết quả nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang lại giá trị thực tiễn trong việc bảo tồn và khai thác bền vững các loài nấm. Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các loài nấm mới và giá trị của chúng trong tương lai.

4.1. Kết luận

Nghiên cứu đã xây dựng thành công danh lục thành phần loài nấm lớn tại núi Ngọc Linh, đánh giá tính đa dạng sinh học và phân tích giá trị tài nguyên của các loài nấm. Đây là nền tảng quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo.

4.2. Kiến nghị

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các loài nấm mới và giá trị của chúng, đồng thời đẩy mạnh công tác bảo tồn và khai thác bền vững các loài nấm tại núi Ngọc Linh.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần loài nấm lớn thuộc ngành myxomycota ascomycota basidiomycota ở núi ngọc linh tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Một số hệ thống nắm chính. Hệ thông nắm theo Gaiimann (1964) [2] Nắm được chia thành 5 lớp sau: Archimycetes - khối nhảy, dạng amip. Phycomycetes - dang siphon.

Ascomycetes - sinh san bang Ascus. Basidiomycetes - sinh sản bằng Basidia. Hệ thống này được nhiều nhà khoa học ủng hộ như Kursauov, Descary.sự phân loại dựa vào cấu trúc tế bào. Hệ thống nắm theo Kreisel (1969) [3] Nam Nhay kh6éng thuộc nấm, còn Eumycota gồm các lớp: Zygomycetes, Eudomycetes, Ascomycetes, Basidiomycetes, Endomycetes Imperfecti, Ascomycetes imperfecti, Basidromycetes Imperfecti, loại lớp Chytridromycetes khỏi nắm và xếp Oomycetes vào một lớp của ngành tảo vàng ánh (Chrysophyta).

Theo ông nắm gồm những cơ thê không có màng kitin. Hệ thông nắm theo Ainsworth, Bisby (1971) [4] Ngành Myxomycota gồm các lớp: Acrasiomycetes, Hydromycetes, Myxomycetes va Plasmodiophoromycetes. Ngành Eumycota được chia làm Š phân ngành với các lớp: Phân ngành Masitigomycotina: gồm 3 lớp: Chytridiomycetes, Hyphochytridiomycetes, Oomycetes. Phân ngành: Zygomycotina: gồm 2 lớp: Zygomycetes, Trichomycetes.

Phân ngành: Ascomycotina với 6 lớp: Hemiascomycetes, Plectomycetes, Pyremomycetes, Discomycetes, Laboulbeniomycetes, Loculoascomycetes. Phân ngành: Bsassidiomycotina gồm 3 lớp: Teliomycetes, Hymenomycetes, Gasteromycetes. Phân ngành: Deuteromycotina gồm 3 lớp: Blastomycetes, Hyphomycetes, Coelomycetes 1.4, Hé thong ném “Dictionary of the fungi” ctia P. Kirk (2008) ông đã tổng hợp tỉnh hoa, những tiến bộ của các hệ thống trước đó, bao gồm 97861 loài nấm chính thức, 8283 chi (và gần 5101 synonyn), 560 họ, 140 bộ, 36 lớp đã được mô tả.

Ngoài ra còn 1083 loài nam nguyên sinh động vật, 103 chi, 26 họ, 9 bộ, 5 lớp và 1033 loài nam tao, 124 chi, 29 họ, 16 bộ, 3 lớp, tuy nhiên Paul. Kirk khéng chap nhan nganh Myxomycota va ngành Oomycota đứng trong vị trí các ngành của nắm 4 1. Hệ thống nấm “Danh lục các loài nấm lớn ở Việt Nam” của Trịnh Tam Kiệt 2014 [6] Danh lục nắm lớn ở Việt Nam theo Trịnh Tam Kiệt, được chia thành các 4 ngành, 49 bộ, 140 ho, 458 chi, va khoảng 1821 loài. Ngành nắm nhầy (MYXOMYCOTA) Lớp nam nhay (MYXOMYCETES), hệ thống: 5 bộ, 14 ho, 62 chi, 888 loai.

Bộ Liceales: ho Cribrariaceae, Dictydiaethaliaceae, Liceaceae, Tubiferaceae; BO Echinosteliales: họ Clastodermataceae, Echinosteliaceae; Bộ Physales: 2 ho, 12 chi, 142 loai, chi Physarum dai dién; BO Stemonitales: 1 ho Stemonitaceae, 15 chi, 16 syn, 201 loài Bộ Trichiales: họ Arcyriaceae, Dianemataceae, Trichiaceae Lớp CERATIOMYXOCETES, hé théng: 1 bé, 4 ho, 16 chi, 38 loài. Bộ Ceratiomyxales: ho Ceratiomyxaceae Nganh GLOMEROMYCOTA Lớp Glomeromycetes, hé théng: 1 bộ, 1 họ, 1 chi, 3 loài. Bộ Glomerales: họ Glomeraceae, chi Glomus Ngành nắm túi (ASCOMYCOTA) Lớp LEOTIOMYCETES: Bộ Meliolales: họ Meliolaceae; Bộ Helotiales: họ Hyaloscyphaceae. Lop DOTHIDEOMYCETES: Họ Asterinaceae, Parodiopsidaceae, Tubeufiaceae Lop phụ PLEOSPOROMYCETIDAE: Bộ Pleosporales: họ Morosphaeriaceae, Aigialaceae, Melanomaceae Lop phu HYPOCREOMYCETIDAE: B6 Microascales: ho Halospaeriaceae, Parodiellaceae.

Lớp phụ DOTHIDEOMYTIDAE: Bộ Dothideales: họ Asterinaceae; Bộ Mpyriangiales: họ Myriangiaceae, ho Elsinoaceae; Bộ Diatrypales: họ Diatrypaceae; Bộ Helotiales: họ Scleorotinaceae; Bộ Hysteriales: họ Hysteriaceae. Lớp LEUCANOROMYCETES Lớp phụ LEUCANOROMYCETIDAE: Bộ Leucanorales: họ Dactylosporaceae. Lớp SORDARIOMYCETES: Bộ Phyllachorales: họ Phyllachoraceae 5 Lớp phụ HYPOCREOMYCETIDAE: Bộ Hyporeales: họ Hypocreaceae, Nectriaceae, Bionectriaceae, Ophiocordycipitaceae, Cordycipitaceae, Clavipitaceae. Lớp phụ XYLARIOMYCETIDAE: Bộ Xylariales chi Oxydothis, ho Amphusphaeriaceae, Xylariaceae; Bộ Sordariales: họ Nischklaceae; Bộ Ostropales: họ Stictidaceae; Bộ Patellariales: họ Patellariaceae.

Ngành phụ PEZIZOMYCOTINA Lớp phụ EUROTIOMYCETIDAE: Bộ Onygenales: họ Onygenaceae; Bộ Eurotiales: họ Elaphomycetaceae. Lớp PEZIZOMYCETES Lop phụ PEZIZOMYCETIDAE: B6 Pezizales: họ Ascobolaceae, Helotiaceae, Pyronemataceae, Otideaceae, Pezizaceae, Choriactidaceae, Sarcosomataceaae, Sarcoscyphaceae, Morchelaceae, Helvellaceae. Ngành nắm Đảm (BASIDIOMYCOTA) Ngành phụ PUCCINIOMYCOTINA Lớp PUCCINIOMYCETES: Bộ Septobasidiales: họ Septobasidiaceae Ngành phụ USTILAGOMYCOTINA Lop USTILAGOMYCETES: B6 Ustilaginales: ho Ustilaginaceae Lớp EXOBASIDIMYCETES: Bộ Exobasidiales: họ Exobasidiaceae. Ngành phụ AGARICOMYCOTINA Lop TREMELLOMYCETES: B6 Tremellales: ho Aporpiaceae, Exidiaceae, Tremellaceae, Sirobasidiaceae; Bộ Atractiellales: họ Chionosphaeraceae, Phleogenaceae Lop DACRYMYCETES: B6 Dacrymycetales: ho Dacrymycetaceae Lớp AGARICOMYCETES: Bộ Auriculariales: họ Auriculariaceae; Bộ Platygloeales: họ Platygloeaceae; Bộ Ceratobasidiales: họ Ceratobasidiaceae; Bộ Corticiales: họ Corticiaceae; Bộ Thelephorales: họ Bankeraceae, Thelephoraceae; Bộ Cantharellales: họ Cantharellaceae, Craterellaceae, Hydnaceae, Aphelariaceae, Typhulaceae, Clavariaceae, Clavulinaceae, Clavariadelphaceae; Bộ Gomphales: họ Gomphaceae, lentariaceae, Ramariaceae; Bộ Hymenochaetales: họ Repetobasidiaceae, Schizoporaceae, Asterostromaceae, Hymenochaetaceae; Bo Trechisporales: Ho Hydnodontaceae; Bộ Polyporales: họ Phanerochaetaceae, Meruliaceae, Grammothellaceae, Ganodermataceaae, Fomitopsisdaceae, 6 Polyporaceae, Meripilaceae; Bộ Gloeophyllales: ho Gloeophyllaceae; Bộ Atheliales: ho Atheliaceae; Bo Agaricales: họ Pterulaceae, Fistulinaceae, Cyphellaceae, Schizophylaceae, pterulaceae, Hygrophoraceae, Pleurotaceae, Niaceae, | Marasmiaceae, Omphalotaceae, Mycenaceae, Physalacriaceae, Hydnangiaceae, Tricholomataceae, Entolomataceae, Lyophyllaceae, Amanitaceae, Agaricaceae, Pluteaceae, Psathyrellaceae, Strophariaceae; Bộ Cortinariales: họ Cortinariaceae, Inocybaceae; Bộ Russulales: họ Stereaceae, Lachnocladiaceae, Peniophoraceae, Auriscapiaceae, Albatrellaceae, Hericiaceae, Bondarzewiaceae, Russulaceae; Bộ Boletales: họ Coniophoraceae, Serpulaceae, Gomphidiaceae, Gyroporaceae, Boletaceae, Xerocomaceae, Strobilomycetaceae, Paxillaceae, Tabinellaceae, Diplocytidiaceae, Sclerodermataceae; Bộ Geastrales: ho Geastraceae; Bộ Phallales: họ Claphraceae, Phallaceae.

Tình hình nghiên cứu nắm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota trên thế giới Nắm được con người biết đến cách đây hơn 3000 năm, trong suốt thời gian dài, trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về nắm lớn. Trước thế kỷ XIX trên thế giới công trình của hai nhà bác học Théophraste và Aristote người Hy Lạp đã nghiên cứu về nắm họ Tuberaceae và họ Agaricaceae vào thế kỷ thứ IV trước công nguyên. Tiếp đến là Pline người La mã (thế kỉ I sau công nguyên) đã chia nắm thành nắm ăn và nắm độc. Năm 1753 Linnaeus với tác phẩm “Species plantarum” đã đề cập đến một số loài nắm.

Trong thế kỷ XIX, ngành Myxomycota được biết đến từ De Bary A., năm 1887 tại London với công trình “Comparative morphology and biology of the fungl, Mycetozoa and bacterid”, đã so sánh đặc điểm hình thái và sinh học của nấm, động vật va vi khuân [7]., nghiên cứu về Myxomycetes “Ueber die Aufnahme lebender und todter verdaulicher Körper in die Plasmodien der Myxomyceten” tai Đức [8]. nghiên cứu về loài Trichia /#allax [9]. Trong thế kỷ này chưa có công trình nghiên cứu nắm ngành Asomycota và Basidiomycota nôi bật. Ở thế kỷ XX, ngành Myxomycota tiếp tục được nhiều nhà khoa học quan tâm: Constantineanu JC., năm 1907 tại Berlin, đã giới thiệu sự phát triển của ngành 7 Myxomycota [10].

Năm 1930 tại Mỹ Kamby P., nghiên cứu màu sắc plasmic của các loài thuộc lớp Myxomycetes [II]. Lúc này nghiên cứu nắm ngành Basidimycota bắt đầu bởi Rea C., nghiên cứu nam Dam tai Anh “British Basidiomysetes” nam 1922 [12]. Nam 1953 tai Hoa Ky, Overholts L., cho ra đời công trình “The Polyporaceae of the United States, Alaska, Canada” da phan tich ti mi vé nam 16 [13]. Sau 1960, ngành nắm Myxomycota chi còn it tac gid nghién ctru: Wollman C., nim 1964 nghiên cứu bao tit Myxomycetes trong sự phát triển trên môi trường thạch [14].

Trong khi đó việc nghiên cứu nắm ngành Ascomycota và Basidiomycota phát trién manh mé. Tai New Zealand, Cunningham G., năm 1965 céng bé ho nam lỗ với tên dé tai “The Polyporaceae of New Zealand”, ông đã cho biết tại New Zealand có 550 loài nắm lỗ [15]., day công nghiên cứu về nấm lỗ ở châu Âu với công trình “Ad Polyporaceas II” đã mô tả hình thái hiển vi, cấu trúc sợi, khóa định loại của các loài thuộc họ Polypocraeae ở các chỉ Polyporus, Mycobonia, Echinochaete tại Anh. Tiếp tục ở phần “Ad Polyporaceas II” ông phân tích các chỉ như Pifoporus, Buglossoporus, Laetipory Meripilus, bondarzewia. Phan “Ad Polyporaceas IV” 6ng phân tích hình thái và khóa định loại các chỉ như Daedalea, Flabellophora, Flavodon, Gloeophyllum, Heteroporus, Irpex, Lenzites, Microporellus, Nigrofomes Nigroporus, Oxyporus, Paratrichaptum, Rigidoporus, Scenidium, Trichaptum, Vanderbylia, and Steccerinum [16].

Nghién ctu vé nam séng 6 dat cd Hanns Kreisel nam 1967, trong công trình “Taxonmisch-Pflanzegeographische Monographie Der Gattung Bovisfa”của mình, ông đã mô tả đặc điểm hình thái, cấu trúc sợi nắm, định loại 45 loài nắm thuộc chi Bovista [17]., nam 1967 6ng đã mô tả, định loại các loài nắm lỗ ở Châu Âu công trình “Notes on European Polypores II Notes on poria” [18]., cho ra đời tác phâm “Fungi of China” ông mô tả đến 2400 loài, 601 chi thuộc các lớp: Myxomycetes (5 bộ), Phycomycetes (6 bộ), Ascomycetes (16 bộ), Basidiomycetes (12 bộ), Deuterommycetes (4 bộ) [19]. Olive (1975) phân chia nấm thành bảy lớp: Protosteliomycetes, Ceratomyxomycetes, Dictyosteliomycetes, Acrasiomycetes, Myxomycetes, Plasmodiophoromycetes và Labrinthulomycetes. Sau đó, Ông đã nâng các lớp phụ như Protosteliomycetes, 8 Acrasiomycetes và Dictyosteliomycetes va cd 2 bộ: Hydroxenales va Labyrinthulales [20]. Từ thập niên §0 của thế kỷ XX, Hawksworth và cộng sự (1983) đã giữ bảy lớp của ngành Myxomycota, và đã loại trừ Hydromyxales khỏi nắm và đưa nó vào Protozoans [21].

Trong thời gian này nghiên cứu về nắm ngành Basidiomycota có tác giả Rolf Singer, năm 1986 với “The Agaricales in modern taxonomy” đã mô tả tỉ mĩ về hình thái, cấu trúc và bào tử 17 họ, 230 chi và hàng trăm loài thuộc bộ Agaricales [22]. Zhao Ji-Ding, nam 1989, trong cuốn “The Ganodermataceae in China” ông mô tả hệ sợi, bào tử và định loại cho 64 loài thudc chi Ganoderma, 20 loai thudc chi Amauroderma, Chỉ Haddowia có 1 loài, chi Humphreya 1 loai [23]. Nam 1994 tác gia Pegler D., nghién cứu dé tai “The mushroom identifier” đã mô tả 341 loài nắm lớn ở Anh [24]. Tại Đài Loan năm 1998, Chec-Jen Chen nghiên cứu dé tai “Morphological and molecular phylogenies in the genus Tremella”, hinh thái và cấu trúc của các loài thuộc chỉ 7Tremella.

đã được phân tích tỉ mĩ [25].Gotlieb va Jorge E.Wright nghiên cwu “Taxanomy of Ganoderma from southern south america: Subgenus Elfvingia” da phân tích hình thái hệ sợi nắm, mô tả và bằng hiển vi điện tử bào tử của các loài Œ.tornatm, chú trọng đặc biệt loài Œ. Đề tai “Pilze der Schweiz” kéo dài 25 năm của hai tác gid Breitenbach.Kraenzlin đã đưa đến cái nhìn tổng quát về ngành nấm Túi và nắm Dam: năm 1981 xuất bản tap 1 “Ascomycetes” với 390 hình ảnh màu sắc, nhiều bản vẽ hiển vi rõ nét, tác giả đã giới thiệu hình thái, cấu trúc, phương pháp định loại của các loài thuộc Ascomycetes, liệt kê các đại diện phân bố rộng rãi ở Trung Âu [27]. Năm 1986 xuất bản tap 2 “Heterobasi-Basidiomycetes, Aphyllopharales, Gateromycetes” hai tác giả giới thiệu phương pháp thu thập, chọn lọc, kiểm tra và bảo quản mẫu nam với 528 loài thuộc Heterobasi-Basidiomycetes, Aphyllopharales, Gateromycetes có đầy đủ màu sắc [28]. Năm 1991 xuất bản tập 3 “Boletales and Agaricales” hai tác giả tiếp tục giới thiệu các loài thuộc 2 bộ Boletales và Agaricales trong đó có 450 hình ảnh minh họa [29].

Năm 1995 xuất bản tập 4 “Entolomataceae, Pleuteaceae, Amanitaceae, Agaricaceae, Coprinaceae, Bolbitiaceae, Strophariaceae” với 465 hình ảnh của các loài [30]. Năm 2000 xuất 9 bản tập 5 “Cortinariaceae” tác giả giới thiệu các loài trong họ Cortinariaceae [31], năm 2006 xuất bản tập 6 “Russulaceae” mô tả các loài trong họ Russulaceae [32]. Sang thế kỉ XXI các công trình nghiên cứu nấm ngành Myxomycota, Ascomycota va Basidiomycota phát triển nhanh chóng: đầu năm 2000 Abe T., cùng đồng sự, nghiên cứu về Physarwmn polycephalum [33]., đã nghiên cứu 5 loài thuộc chỉ Đaidinia của bắc Âu là: D. Nam 2004 Clark J, Haskins EF, Stephenson SL., nghiên cứu về quá trình sinh sản của 11 loài nắm thuộc Mycetozoa [35].

Con Mao Xiaolan và cộng sự, xuất bản cuốn “The Macro fungi in China”, ở tại Trung Quốc trong đó mô tả hình thái, cấu tạo sợi nấm, bảo tử,. với nhiều hình ảnh, bằng tiếng Trung Quốc và đã ghi tên loài bằng tiếng Latin [36].Norvell và Scott A. Redhead, đã nghiên cứu đề tài “Stropharia albivelata and its basionym Pholiota albivelata”, dựa trên cơ sở phân tích bào tử và cấu trúc phân tử, ông đã thay đổi loài Pholiota albivelara thanh lodi Stropharia following va loài Stropharia earlei thành loài Pholiota cubensis [37].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn tại núi Ngọc Linh, Quảng Nam: Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota là một tài liệu chuyên sâu về đa dạng sinh học, tập trung vào việc khảo sát và phân loại các loài nấm lớn thuộc ba nhóm chính: Myxomycota, Ascomycota và Basidiomycota tại khu vực núi Ngọc Linh, Quảng Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về thành phần loài mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tại đây. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những người quan tâm đến lĩnh vực nấm học và đa dạng sinh học.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ nấm linh chi Ganodermataceae Donk ở vườn quốc gia Chư Yang Sin, Luận văn thạc sĩ vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2 Đài truyền hình Việt Nam khảo sát 2012-2013, và Luận văn đánh giá tính đa dạng sinh học thực vật hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các nghiên cứu liên quan đến đa dạng sinh học và bảo tồn tại Việt Nam.