CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 1. Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên VQG Chư Yang Sin 1. Vị trí địa lý Vườn quốc gia Chư Yang Sin nằm trên địa bàn các xã: Yang Mao, Cư Drăm, Cư Pui, Hòa Phong, Hòa Lễ, Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền thuộc huyện Krông Bông và các xã: Yang Tao, Bông Krang, Krông Nô, Đắk Phơi thuộc huyện Lắk, tỉnh Đăk Lăk. Tại đây có đỉnh núi Chư Yang Sin (2.442 mét) cao nhất hệ thống núi cao cực Nam Trung Bộ.
Phía Đông: dọc sông Krông Bông đến ngã ba suối Ya Brô đến đường phân thủy sông Krông Ana. Phía Tây: từ suối Đắk Cao đến ngã ba suối Đắk Kial và đến đường phân thủy giữa Đắk Cao và Đắk Phơi. Phía Nam: dọc sông Krông Nô, ranh giới Đắk Lắk và Lâm Đồng. Phía Bắc: bắt đầu từ thác Krông Kmar qua dãy Chư Ju - Chư Jang Bông đến suối Ea Ktuor.
Tọa độ địa lý: Từ 120014ˊ16˝ đến 130030ˊ58˝ vĩ bắc Từ 108017ˊ47˝ đến 108034ˊ48˝ kinh đông Hình 1.1: Bản đồ Khu vực nghiên cứu – Vườn quốc gia Chư Yang Sin Luan van 4 1. Khí hậu, thủy văn *Khí hậu Khu vực VQG Chư Yang Sin thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Tây Nguyên, hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 4 đến hết tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến đầu tháng 4 năm sau. + Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm khu vực đạt 220C ở vùng chân núi (độ cao 400-500 m). Tuy nhiên theo quy luật đai cao, càng lên cao, nhiệt độ càng giảm.
Trên đai cao >900 m, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 140 -200 C. Nhiệt độ tháng nóng nhất là tháng 4 với nhiệt độ trung bình tháng là 23,70 C, tháng lạnh nhất là tháng 1 dưới 120 C. + Lượng mưa: Chư Yang Sin là khu vực có lượng mưa tương đối lớn. Tổng lượng mưa trung bình năm dao động từ 1800 - 2000 mm.
Song, do yếu tố địa hình nên lượng mưa năm có sự dao động lớn, có năm đạt trên 3. Có sự biến động khá lớn về lượng mưa năm ít nhất. Lượng mưa tập trung vào mùa mưa. Độ ẩm tương đối trung bình năm là 84%.
*Thủy văn Vườn quốc gia Chư Yang Sin có hệ thống nước mặt khá phong phú với mạng lưới sông suối dày ở cả sườn bắc và sườn nam. Mật độ sông, suối trong khu vực khoảng 0,35 km/km2. Phần lớn các sông suối trong VQG có dòng chảy quanh năm, chất lượng nước mặt khá tốt, thường có độ khoáng hóa nhỏ, pH trung tính. Phía Bắc và Đông có suối Krông Kmar, Đăk Liêng và các suối nhỏ như Đăk Kliên, Đăk Vil, Đăk Sất, Đăk Trop Tai, Ea K’Tour, Ya Tong, Ya Sobla, Ya R’mau, Ya Knoa, Ya Bro, Ya Korko.
Các suối này đều là thượng nguồn của lưu vực sông Ea Krông Ana. Phía Nam và Tây có các suối Đăk Kao, Đăk Pair, Ya Mal, Đăk Gui, Đăk Mé, Đăk Yang Klam, Đăk Knar. Các suối này đều là thượng nguồn của sông Krông Knô. Sông Krông Knô là ranh giới phía Nam của VQG, dài khoảng 42 km và cũng là ranh giới giữa 2 tỉnh Lâm Đồng và Đăk Lăk.
Địa hình, thổ nhưỡng, thảm thực vật * Địa hình Chư Yang Sin là hệ thống núi trung bình và núi cao ở cực Nam Trung Bộ, nằm về phía Nam vùng trũng Krông Pach- Lắk, chạy dài theo hướng Đông Bắc-Tây Nam. Khu vực VQG bao gồm các núi Chư Ba nak (1858 m), Chư Hae’le (1204 m), Chư Pan phan (1885 m), Chư Đrung Yang (1812 m), Chư Yang Siêng (1128 m), Yang Klinh (1271 m), Chư Yang Saone (1176 m), Chư Hrang Kreou (1071 m) và dãy núi có đỉnh cao nhất ở Nam Trường Sơn đó là Chư Yang Sin có độ cao 2. Với sự hoạt động mạnh mẽ của quá trình nội và ngoại sinh, trong đó đặc biệt là quá trình ngoại sinh đã làm cho địa hình khu vực bị chia cắt mạnh, tạo thành nhiều thung lung nhỏ, hẹp. Tuy vậy, kết quả khảo sát cho thấy, có một số thung lũng khá bằng phẳng phân bố theo các triền sông, suối lớn.
Độ cao VQG chênh lệch rất lớn, từ 450 m đến 2442 m. Độ chia cắt sâu >500 m, độ chia cắt ngang dao động 2-2,4 km/km2. Yếu tố sườn cũng là một trong những đặc điểm có sự phân hóa rõ rệt của VQG. Địa hình sườn phía Bắc và phía Tây có độ dốc lớn, phổ biến từ 250-350, thậm trí một số nơi độ dốc >400.
Sườn Đông và Nam, địa hình trải dài và nâng lên từ từ, phần lớn có độ dốc từ 150-250. * Thổ nhưỡng Căn cứ vào bản đồ đất Tây Nguyên tỷ lệ 1/200.000 và kết quả khảo sát thực địa cho thấy, trên lãnh thổ VQG Chư Yang Sin có một số nhóm đất: + Đất Feralit mùn vàng đỏ núi trung bình trên đá macma axit: Diện tích 38.220 ha, chiếm 64,2 % diện tích tự nhiên. Nhóm đất phân bố chủ yếu trên đai cao 900- 1.800 m và chiếm đại đa số diện tích VQG. + Đất Feralit đỏ vàng núi thấp trên đá macma axit: Có diện tích khá lớn, khoảng 8.898 ha, chiếm 14,9% diện tích tự nhiên.
+ Đất Feralit vàng nhạt núi thấp trên đá cát: Diện tích khoảng 4.827 ha, chiếm trên 8% diện tích tự nhiên. Nhóm đất phân bố ở đai cao <900 m, trên kiểu địa hình núi thấp, tập trung ở xã Yang Mao huyện Krông Bông. Luan van 6 + Đất Feralit mùn vàng nhạt núi trung bình trên đá cát: Diện tích 4.232 ha, chiếm 7% diện tích tự nhiên. Đất phân bố tập trung ở các núi có độ cao trung bình như Chư Po Liên (1.309 m), Chư R’Ha Đang (1.224 m), Chư Kour Ki (1.272 m) thuộc xã Yang Mao, huyện Krông Bông.
+ Đất mùn Alit trên núi cao: Diện tích 2.770ha, chiếm 4,7% tổng diện tích tự nhiên. Đất phân bố tập trung ở khu vực phụ cận đỉnh Chư Yang Sin ở đai cao >1. * Thảm thực vật + Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: Kiểu rừng này ít nhiều đã bị tác động, song nhiều nơi còn giữ được tính nguyên sinh. Thực vật tạo rừng khá phong phú, phổ biến là các loài trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đậu (Fabaceae).
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình: Mức độ tác động nhìn chung yếu, nên thảm thực vật còn giữ được tính nguyên sinh. Độ che phủ đạt 0,7-0,8, thậm chí đạt 0,9. Thực vật chiếm ưu thế là các loài cây lá rộng thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Sau sau (Hamamelidaceae), họ Tô hạp (Altingiaceae), họ Chè (Theaceae), họ Trâm (Myrtaceae). Tham gia vào tổ thành loài còn là các loài thực vật hạt trần với những cây gỗ có kích thước lớn, trong đó có nhiều loài là những cây trong tầng vượt tán như Thông lá dẹt (Pinus krempfii), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông 3 lá (Pinus kesiya), Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis).
Bên cạnh đó còn có Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Kim giao (Nageia wallichiana). + Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình, núi cao (Sinh cảnh rừng lùn trên núi cao): Có diện tích không lớn, phân bố tập trung phụ cận đỉnh Chư Yang Sin độ cao 1. Chiều cao thực vật trong kiểu thảm biến đổi khá nhiều theo dạng địa hình, có thể từ 10-17 m, song phổ biến 10-15 m, đường kính đạt 20-25 cm, có khi 35 cm. Những loài cây hạt trần trong kiểu thảm này bắt Luan van 7 gặp là Thông lá dẹt (Pinus krempfii), Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis) và Pơ mu (Fokienia hodginsii).
Thân cây thường nhiều cành, phủ rêu và địa y. Hiện tượng này càng gần đỉnh núi càng rõ nét. + Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp: Loài ưu thế là Thông 3 lá (Pinus kesiya). Cây mọc gần như thuần loài thành những dải hẹp ở thung lũng Ea Krông Kmar và thung lũng Đăk Mé.
Rừng có cấu trúc rất đặc trưng của rừng thưa cây lá kim, với mật độ cây thường không quá 220 cây/ha. Rừng có 2 tầng cây gỗ và 1 tầng cây bụi thảm tươi. Tầng ưu thế sinh thái gồm Thông 3 lá với chiều cao 18-25 m, đường kính trung bình 30 cm, tán khá liên tục. Tầng dưới tán là các cây lá rộng như Chẹo răng cưa (Engelhardtia spicata), Dâu rượu (Myrica esculenta), Hồng quang (Rhodoleia championii), Vối thuốc (Schima wallichii) cùng nhiều loài đến từ họ Dẻ, họ Re, họ Sim.
Tầng cây bụi và thảm tươi, thảm khô khá phát triển làm cho khả năng tái sinh dưới tán rừng kém, hầu như không thấy Thông 3 lá tái sinh 1. Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó 1. Khái niệm chung Nấm đảm là những nấm bậc cao, cơ thể của nấm đảm dạng sợi phân nhánh. Giai đoạn song hạch chiếm phần lớn chu trình sống.
Thể dinh dưỡng của nấm đảm là dạng sợi đa bào nguyên thủy, có vách ngăn ngang với lỗ thông phức tạp dạng dolyporus, phân nhánh mạnh, màng được cấu tạo chủ yếu từ Kitin [5].Sinh sản vô tính bằng nhiều kiểu khác nhau còn sinh sản hữu tính bằng bào từ đảm (Basidiospore) được hình thành trên thể sinh sản. Cá thể phát sinh của nấm đảm (Basidiomycetes) Theo một số tác giả như Trịnh tam Kiệt[11], Lê Bá Dũng[5], Leif Ryvarden[50] thì cá thể phát sinh của nấm đảm trong trường hợp điển hình diễn ra như sau: Bào tử đảm khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm, hình thành sợi sơ cấp với các tế bào đơn nhân, đơn bội (1n). Sợi sơ cấp tồn tại rất ngắn trong chu trình sống. Sau đó chúng mau chóng tiếp hợp với sợi khác tính, giao phối sinh chất, song Luan van 8 hạch hóa để tạo ra sợi song nhân đơn bội (n + n) - sợi thứ cấp.
Sợi thứ cấp phát triển rất mạnh và tồn tại lâu dài trong chu trình sống. Ở phần lớn các loài, tế bào đinh sợi hình thành một mẩu nhỏ thường gọi là khóa hay cầu nối giữa hai nhân khác tính. Sau đó cả hai nhân đều phân chia cho bốn nhân con, một nhân đi vào nhánh còn một nhân ở lại gốc, còn hai nhân khác tính ở phần đầu của sợi. Sau đó khuỷu cong xuống, hòa tan màng nhân đồ nội thất và nhân vào tế bào gốc đồng thời xuất hiện vách ngăn với tế bào đinh.
Kết quả là hình thành nên một tế bào song hạch mới. Như vậy tế bào dưới tế bào đinh lại trở nên song hạch và vết tích còn lại như chiếc cầu của ổ khóa nên được gọi là cầu nối, móc nối hay khóa. Sợi song hạch được tạo thành có khả năng sinh trưởng vô hạn và hầu như chiếm toàn bộ đời sống của nấm.