Luận án tiến sĩ sinh học: Nghiên cứu thành phần loài họ Tò Vò Sphecidae tại Tây Bắc Việt Nam

Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu thành phần loài họ Tò vò Sphecidae ở Tây Bắc Việt Nam, đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính loài Scel.

Chuyên ngành

Côn trùng học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

155
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Thành phần loài họ Tò Vò Sphecidae ở Tây Bắc Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định thành phần loài của họ Tò Vò Sphecidae tại khu vực Tây Bắc Việt Nam. Kết quả cho thấy sự đa dạng đáng kể với việc phát hiện 1 loài mới cho khoa học và ghi nhận mới 4 loài, 3 phân loài cho khu hệ tò vò của Việt Nam. Các loài này được phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi, nơi có điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng. Nghiên cứu cũng cung cấp dữ liệu về phân bố địa lý của các loài, góp phần làm giàu hiểu biết về đa dạng sinh học của khu vực.

1.1. Đặc điểm hình thái của các loài

Các loài thuộc họ Tò Vò Sphecidae được mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, bao gồm kích thước, màu sắc, và cấu trúc cơ thể. Đặc biệt, loài mới Chalybion tanvinhensis được mô tả với các đặc điểm nổi bật như kích thước lớn, màu sắc đặc trưng, và cấu trúc cánh độc đáo. Những mô tả này là cơ sở quan trọng cho việc nhận dạng và phân loại các loài trong tương lai.

1.2. Phân bố địa lý

Các loài Tò Vò Sphecidae được ghi nhận phân bố ở nhiều sinh cảnh khác nhau, từ vùng núi cao đến khu vực dân cư. Sự phân bố này phản ánh khả năng thích nghi cao của các loài với điều kiện môi trường đa dạng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số loài có xu hướng tập trung ở các khu vực có độ cao nhất định, điều này có thể liên quan đến yếu tố khí hậu và thức ăn.

II. Đặc điểm sinh học và sinh thái học của loài Sceliphron madraspatanum

Nghiên cứu này tập trung vào đặc điểm sinh họcsinh thái học của loài Sceliphron madraspatanum, một loài phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Kết quả cho thấy loài này có thời gian phát triển các pha từ trứng đến trưởng thành khoảng 30-40 ngày, với tỷ lệ sống cao. Loài này cũng có tập tính làm tổ đặc trưng, thường chọn các vị trí kín đáo như kẽ tường, gầm bàn để xây tổ. Nghiên cứu cũng ghi nhận vật mồi chủ yếu của loài này là các loài nhện, phản ánh vai trò quan trọng của chúng trong việc kiểm soát quần thể nhện trong hệ sinh thái.

2.1. Tập tính làm tổ

Loài Sceliphron madraspatanumtập tính làm tổ rất đặc biệt, thường chọn các vị trí kín đáo và gần nguồn thức ăn. Tổ được xây dựng từ bùn và có cấu trúc nhiều khoang, mỗi khoang chứa một con mồi và một trứng. Nghiên cứu cũng ghi nhận thời gian xây một khoang tổ khoảng 2-3 ngày, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và nguồn thức ăn.

2.2. Vật mồi và kẻ thù tự nhiên

Vật mồi chủ yếu của loài Sceliphron madraspatanum là các loài nhện, đặc biệt là nhện thuộc giống AraneusTetragnatha. Nghiên cứu cũng ghi nhận một số kẻ thù tự nhiên của loài này, bao gồm các loài ong ký sinh và rết. Những kẻ thù này có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng và trưởng thành, từ đó tác động đến quần thể của loài.

III. Tập tính của loài Sceliphron madraspatanum

Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về tập tính của loài Sceliphron madraspatanum, bao gồm tập tính đẻ trứng, tập tính ăn của ấu trùng, và tập tính giao phối. Kết quả cho thấy loài này có tập tính đẻ trứng rất cẩn thận, thường đẻ trứng vào con mồi đã được làm tê liệt. Ấu trùng có tập tính ăn rất mạnh, tiêu thụ toàn bộ con mồi trong vòng 5-7 ngày. Nghiên cứu cũng ghi nhận tập tính giao phối của loài này thường diễn ra vào buổi sáng, với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các con đực.

3.1. Tập tính đẻ trứng

Loài Sceliphron madraspatanumtập tính đẻ trứng rất đặc biệt, thường đẻ trứng vào con mồi đã được làm tê liệt. Trứng được đặt ở vị trí sao cho ấu trùng có thể dễ dàng tiếp cận và tiêu thụ con mồi. Nghiên cứu cũng ghi nhận rằng loài này có thể đẻ nhiều trứng trong một khoang tổ, tùy thuộc vào kích thước của con mồi.

3.2. Tập tính giao phối

Tập tính giao phối của loài Sceliphron madraspatanum thường diễn ra vào buổi sáng, với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các con đực. Con đực thường tìm cách tiếp cận con cái bằng cách bay xung quanh và phát ra âm thanh đặc trưng. Nghiên cứu cũng ghi nhận rằng con cái có thể giao phối với nhiều con đực trong một mùa sinh sản.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu thành phần loài họ tò vò sphecidae hymenoptera apoidea ở một số tỉnh vùng tây bắc việt nam đặc điểm sinh học sinh thái học và tập tính của loài scel

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Nghiên cứu trên thế giới về họ tò vò Sphecidae 1. Nghiên cứu về thành phần và sự phân bố các loài họ tò vò Sphecidae Cho đến nay, đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu về các loài họ tò vò Sphecidae trên toàn thế giới. Tất cả các công trình nghiên cứu liên quan đến các loài họ tò vò của Sphecidae đã được Pulawski (2019) [28] thống kê.

Theo danh lục của Pulawski (bảng 1.1), họ tò vò Sphecidae gồm có 789 loài và được phân chia trong 5 phân họ và 19 giống. Trong đó phân họ Ammophilinae gồm có 6 giống với 347 loài, phân họ Chloriontinae gồm 1 giống với 20 loài, phân họ Sceliphrinae gồm 6 giống với 148 loài, phân họ Sphecinae gồm 5 giống với 273 loài và phân họ Stangeellinae gồm 1 giống và 1 loài. Trong đó, giống Stangeela (1 loài) được phân bố chỉ ở Bra-xin, giống Penepodium (22 loài) phân bố ở vùng Nam Mỹ (the Neotropical region), giống Dynatus (3 loài) phân bố ở vùng Bắc Mỹ, giống Eremnophila (9 loài) phân bố ở vùng Bắc Mỹ và Nam Mỹ (the Nearctic và Neotropical regions) và vùng Cổ Bắc (the Palearctic region), giống Eremochares (6 loài) phân bố ở vùng Cổ Bắc (the Palearctic region) và vùng Nhiệt Đới Châu Phi (the Ethiopian region), giống Podium (23 loài) phân bố ở vùng Nam Mỹ (the Neotropical region), giống Trigonopsis (16 loài) phân bố ở vùng Nam Mỹ (the Neotropical region), giống Chilosphex (2 loài) phân bố ở vùng Cổ Bắc (the Palearctic region), giống Palmodes (21 loài) phân bố ở vùng Bắc Mỹ (the Nearctic region), vùng Cổ Bắc (the Palearctic region) và vùng Nam Phương (the Australian region). Vùng Đông Phương (the Oriental Region) ghi nhận 12 giống: Ammophila (240 loài), Eremnophila (9 loài), Hoplammophila (4 loài), Parapsammophila (21 loài), Podalonia (67 loài), Chlorion (20 loài), Chalybion (49 loài), Sceliphron (35 loài), Prionyx (56 loài), Isodontia (62 loài), Palmodes (21 loài) và Sphex (132 loài).

Thành phần loài tò vò ở các nước trong khu vực Đông Nam Á vẫn chưa được thống kê, các loài được ghi nhận hoặc mô tả mới nằm rải rác trong các xuất bản của một số tác giả. Tsuneki (1963) [45] công bố thành phần loài tò vò của Thái Lan bao gồm 2 loài trong 1 giống Sphex: Sx. sericeus lineolus (tên gọi khác của Sphex sericues) và Sx. Trong khu vực Châu Á, tính đến nay đã có 2 công trình liệt kê về thành phần loài họ tò vò Sphecidae đó là 5 của Barthélémy (2014) [14] đã thống kê 14 loài họ tò vò Sphecidae thuộc 3 phân họ cho khu hệ tò vò ở Hồng Kông.

Trong đó, phân họ Ammophilinae gồm 1 loài thuộc 1 giống (Ammophila), phân họ Sceliphrinae gồm 5 loài thuộc 2 giống (Chalybion và Sceliphron), phân họ Sphecinae gồm 8 loài thuộc 2 giống (Isodontia và Sphex) và Kim et al. Số lượng giống và loài của họ Sphecidae trên thế giới (theo Pulawski, 2019 [28]) Stt Tên khoa học Số lượng Vùng phân bố loài I Phân họ 347 Ammophilinae 1 Giống Ammophila 240 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc 2 Giống 9 Vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Eremnophila Đông Phương 3 Giống 6 Vùng Cổ Bắc Eremochares 4 Giống 4 Vùng Cổ Bắc, vùng Đông Phương, vùng Hoplammophila Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ 5 Giống 21 Vùng Đông Phương, vùng Nhiệt Đới Parapsammophila Châu Phi, vùng Nam Phương 6 Giống Podalonia 67 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nhiệt Đới Châu Phi II Phân họ 20 Chloriontinae 7 Giống Chlorion 20 Vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc 6 III Phân họ 148 Sceliphrinae 8 Giống Dynatus 3 Vùng Bắc Mỹ 9 Giống Penepodium 22 Vùng Nam Mỹ 10 Giống Podium 23 Vùng Nam Mỹ 11 Giống Trigonopsis 16 Vùng Nam Mỹ 12 Giống Chalybion 49 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nhiệt Đới Châu Phi 13 Giống Sceliphron 35 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nhiệt Đới Châu Phi, vùng Nam Phương IV Phân họ 273 Sphecinae 14 Giống Chilosphex 2 Vùng Cổ Bắc 15 Giống Palmodes 21 Vùng Bắc Mỹ, vùng Cổ Bắc, vùng Đông Phương, vùng Nam Phương 16 Giống Prionyx 56 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nhiệt Đới Châu Phi, vùng Nam Phương 17 Giống Isodontia 62 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nam Phương 18 Giống Sphex 132 Vùng Đông Phương, vùng Cổ Bắc, vùng Bắc Mỹ, vùng Nam Mỹ, vùng Nam Phương, vùng Nhiệt Đới Châu Phi V Phân họ 1 Stangeellinae 19 Giống Stangeella 1 Vùng Nam Mỹ Tổng số 789 7 Giống Sceliphron bao gồm 35 loài và 30 phân loài phân bố trên toàn thế giới [28] và được phân chia ra làm 2 phân giống gồm phân giống Sceliphron s.str và phân giống Prosceliphron. Phân giống Sceliphron được mô tả bởi van der Vecht và van Breugel (1968) [15] với 18 loài được ghi nhận và được phân chia thành 2 nhóm loài là nhóm loài S. madraspatanum với 10 loài và nhóm loài S.

spirifex với 8 loài. Phân giống Prosceliphron được mô tả bởi Hensen (1987) [11] với 11 loài được ghi nhận. Jha và Farooqi (1995) [47] đã mô tả 4 loài của giống ở Ấn Độ, trong đó 3 loài thuộc phân giống Sceliphron và 1 loài thuộc phân giống Prosceliphron. Hai loài còn lại của giống là S.

leptogaster Camenron, 1905 cho đến này vẫn chưa được xếp vào phân giống và nhóm loài nào (Pham, 2016) [25]. Nghiên cứu về loài S. madraspatanum Loài tò vò Sceliphron madraspatanum là loài có sự phân bố rộng trên thế giới, cho đến nay loài này được ghi nhận phân bố ở Châu Âu, Châu Á và Châu Phi. Loài này đã được báo cáo là loài ngoại lai ở Châu Úc nhưng chúng chưa thiết lập được quần thể ở đây.

cho thấy loài S. madraspatanum là một loài với nhiều phân loài nhất trong giống Sceliphron, bao gồm 8 phân loài, một số phân loài có phân bố hẹp trong một quốc gia, một số phân loài được phân bố rộng trên nhiều quốc gia [48]. Iida (1969) [41] là tác giả duy nhất cho đến nay đã nghiên cứu về hình thái ấu trùng của loài S. Tác giả đã miêu tả hình thái của ấu trùng đẫy sức S.

madraspatanum đang đình dục trong một tổ bùn mà được thu vào mùa hè ở Ryukyus, Nhật Bản. Ấu trùng có màu trắng vàng nhạt, độ dài tối đa của cơ thể là 14 mm, độ rộng tối đa của cơ thể là 5 mm, chiều dầy cơ thể từ 3,1 – 3,8 mm, độ rộng của đầu là 1,6 mm và chiều cao của đầu là 1,5 mm. Các lông tơ trên bề mặt bụng dài khoảng 20. Ấu trùng có 13 đốt cơ thể, các đốt được phân chia từ sau phần đầu đến phần hậu môn, mặt bên của mỗi đốt có một lỗ thở.

Hai bên mặt lưng bụng có một đường rãnh chạy dọc. Lỗ hậu môn là một khe hẹp nằm ngang. Đầu có màu sắc giống như màu sắc của cơ thể và 1 cặp hố có độ sâu vừa phải ở hai bên. Hàm trên có màu nâu, đỉnh hàm có màu nâu đậm, độ dài 0,54 mm và rộng 0,33 mm.

Gần phần gốc hàm trên có 2 lông cứng dài khoảng 26  và có 9 -10 đốm nhỏ. Hàm trên có 4 răng, 2 răng ở phía đỉnh và 2 răng ở mặt phía trong. Sự phân bố của các phân loài đã biết của S. Sceliphron madraspatanum Ấn Độ 2 andaminicum Kohl, 1918 Sceliphron madraspatanum Philippines 3 conspicillatum (Costa, 1864) Sceliphron madraspatanum Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc 4 formosanum van der Vecht, 1968 Sceliphron madraspatanum Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam 5 kohli Sickmann, 1894 Sceliphron madraspatanum Ấn Độ, Ả Rập Saudi, Iran, Pakistan, 6 pictum (Smith, 1856) Afghanistan, Oman, Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất Sceliphron madraspatanum Indonesia 7 sutteri van der Vecht, 1957 Sceliphron madraspatanum Ý, Pháp, Croatia, Algeria, Tunisia, Tây Ban tubifex (Latreille, 1809) Nha, Turkmenistan, Ai Cập, Hungary, Thổ 8 Nhĩ Kỳ, Iraq, Anbania, Iran, Syria, Bồ Đào Nha, Israel, Nam Tư, Bungaria, Séc, Slovakia, Tajikistan, Uzbekistan, Trung Quốc, Nhật Bản, Ukraina, Slovenia, Nga 9 1.

Nghiên cứu về sinh học của loài tò vò S. madraspatanum và một số loài thuộc họ tò vò Sphecidae Hầu hết các nghiên cứu về sinh học của các loài họ tò vò Sphecidae được thực hiện vùng Bắc Mỹ (the Nearctic region), vùng Nam Mỹ (the Neotropical region) và vùng Cổ Bắc (the Palearctic region). Tuy nhiên, một số các nghiên cứu về sinh học của loài họ tò vò Sphecidae cũng được thực hiện ở vùng Nhiệt Đới Châu Phi (the Ethiopial region) và vùng Nam Phương (the Australian region) [1]. Ở vùng Đông Phương (The Oriental region), nghiên cứu về sinh học của nhiều loài họ tò vò Sphecidae đã nhận được nhiều sự quan tâm nhưng chủ yếu các nghiên cứu này được thực hiện ở Ấn Độ, Sri Lanka, Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan và Philippines.

Những loài được nghiên cứu về sinh học có thể kể ra như: loài Ammophila laevigate, A. atripes, Sphex subtruncatus, Sx. cericeus ở Sri Lanka (Krombein, 1984 [49]); Sx. subtruncatus ở Đài Loan (Tsuneki, 1963 [50]); Sx.

cericeus, Chalybion japonicum ở Hồng Kông (Barthélémy, 2011 [51]; Chalybion bengalense ở Ấn Độ (Jayakar và Spurway (1963, 1964, 1965) [52, 53, 54], Chakrabarti (1986) [55], Sundheendrakumar và Narendran 1989 [56, 57]), S. madraspatanum ở Nhật Bản, Đài Loan và Philippines (Katayama và Ikushima, 1935 [34]; Iwata, 1939 [58]; Spurway et al., 1964 [53]; Williams, 1919 [32]) loài Chlorion lobatum, Sphex argentatus, Sx. luteipennis, Prionyx viduatus, Ammophila clavus, S. Nghiên cứu về cấu trúc tổ Nghiên cứu đầu tiên về sinh học của loài S.

madraspatanum là nghiên cứu của Horne (1870) [29]. Theo nghiên cứu của ông thì sau khi con cái S. madraspatanum tìm kiếm được vị trí lấy bùn thì chúng tiến hành nặn mang các viên bùn về vị trí làm tổ. Cấu trúc tổ của loài là từ các khoang tổ được xây thành hàng ngang hoặc các khoang tổ được xây chồng lên nhau.

Số lượng khoang tổ trong một tổ giao động từ 4 đến 6. Các tổ của loài đều được phủ một lớp bùn bên ngoài, do đó hình thái bên ngoài của tổ giống như một cục bùn. Cameron (1889) [30] cho rằng tổ của loài S. madraspatanum được xây tối đa lên đến 5 khoang tổ.

Các nghiên cứu của Dutt (1912) [31], Myartseva (1968) [40] và Kazenas (2001) [59] đều chỉ ra rằng tổ của loài S. madraspatanum có cấu trúc từ 2 đến 7 10 khoang tổ và một lớp bùn phủ bên ngoài tổ. Các tác giả này cũng cho rằng lớp bùn phủ bên ngoài tổ là một đặc điểm đặc trưng cho cấu trúc tổ của loài. Chính vì đặc điểm đặc trưng của cấu trúc tổ của loài này mà sau khi phân tích một tổ bùn với 5 khoang tổ thu được trong thực đia ở Đức, Menzel (1928) [60] cho rằng đây là tổ của một loài nào đó thuộc giống Sceliphron, có thể là của loài S.

madraspatanum hoặc của loài S. Công bố của Katayama và Ikushima (1935) [34] chỉ ra rằng cấu trúc tổ của loài S.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu thành phần loài họ Tò Vò Sphecidae ở Tây Bắc Việt Nam: Đặc điểm sinh học và tập tính" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các loài thuộc họ Tò Vò Sphecidae tại khu vực Tây Bắc Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích đặc điểm sinh học của các loài mà còn khám phá tập tính của chúng, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của chúng trong hệ sinh thái địa phương. Những thông tin này có thể hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những ai quan tâm đến sinh học và bảo tồn thiên nhiên.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức của mình về các vấn đề liên quan đến môi trường và sinh học, hãy tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, nơi bạn có thể tìm hiểu về chất lượng nước và tác động của nó đến sinh thái. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về chất lượng nước trong các hệ thống thủy sinh. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người để hiểu rõ hơn về ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe con người. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sinh thái và môi trường hiện nay.