MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là đất nước có nguồn tài nguyên phong phú, trong đó có nhiều động - thực vật quý hiếm, vườn quốc gia Cúc Phương là một khu bảo tồn thiên nhiên có hệ động thực vật phong phú và đa dạng mang đặc trưng của rừng mưa nhiệt đới. Nhiều loài động - thực vật có nguy cơ tuyệt chủng chưa được phát hiện và bảo tồn ở vườn quốc gia Cúc Phương. Theo thống kê năm 2016 cho thấy có 1.960 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 887 chi và 221 họ thực vật trong vườn.
Về mặt số lượng loài, các họ giàu loài nhất trong hệ thực vật Cúc Phương là Euphorbiaceae, Poaceae, Fabaceae, Rubiaceae, Asteraceae, Moraceae, Lauraceae, Cyperaceae, Orchidaceae và Acanthaceae. Khu hệ thực vật ở Cúc Phương là tập hợp yếu tố địa lý thực vật bao gồm Trung Quốc - Himalaya, ấn Độ - Miến điện và Malaysia chính vì vậy cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các loài thuộc các họ nấm thích nghi cao hơn với sự phân bố và đặc điểm phân bố tại nơi này. Tính đa dạng của khu hệ thực vật Cúc Phương rất cao đã phản ánh mức độ điều tra nghiên cứu rất chi tiết trong thời gian rất dài trước đây. Giới nấm (Fungi) đã và đang có vai trò quan trọng trong tự nhiên, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong đời sống thực tiễn của chúng ta.
Nấm lớn tham gia vào nhiều chức năng của hệ sinh thái như hình thành đất, khép kín vòng tuần hoàn vật chất như phân hủy gỗ, thân và lá cây, xác côn trùng. Một số loài nấm có thể gây ngộ độc, ký sinh trên cơ thể con người nhưng cũng cung cấp thực phẩm, chữa lành các vết thương và nhiều bệnh hiểm nghèo. Chính vì dựa trên cả hai phương diện khoa học và thực tiễn, việc đẩy mạnh nghiên cứu giới nấm đều có ý nghĩa to lớn và ngày càng được đẩy mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước công nghiệp phát triển. Thành phần và sự phân bố của giới Nấm rất phong phú có số lượng loài lớn, bao gồm 97861 loài, 8283 chi (và gần 5101 synonym), 560 họ, 140 bộ, 36 lớp đã được mô tả (Kirk P.
Trong số các loài nấm lớn, ta thấy các họ có số lượng loài lớn nhất là họ Polyporaceae (161 loài). Họ nấm lỗ (Polyporaceae) ước tính khoảng 85 chi trong đó một số chi có số lượng lớn là chi Polyporus, chi Trametes và chi Lignosus. Việc 2 nghiên cứu thành phần nấm mới chỉ ở mức độ nêu lên danh mục một số loài gặp trong tự nhiên. Như vậy, nhìn chung cho tới nay chưa có chuyên khảo nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về nhóm nấm này ở Việt Nam cũng như vườn quốc Gia Cúc Phương, một địa điểm mà theo đánh giá của các nhà khoa học là có tiềm năng về đa dạng sinh học với nhiều nguồn gen quý hiếm, cần được bảo tồn.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về thành phần và đặc điểm loài của họ nấm Lỗ (Polyporaceae) là vô cùng hữu ích, có ý nghĩa rất lớn đến sự đa dạng sinh học tại Việt Nam và trên thế giới. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ nấm Lỗ (Polyporaceae) tại vườn quốc gia Cúc Phương” để thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu - Phân loại được các loài thuộc họ nấm lỗ tại vườn quốc gia Cúc Phương - Xác định được sự phân bố và đặc điểm phân bố của họ nấm lỗ (Polyporaceae) tại vườn quốc gia Cúc Phương 3. Nội dung nghiên cứu Nội dung 1.
Tổng quan tài liệu về nấm ở Việt Nam. + Khái quát về đặc điểm Vườn Quốc Gia Cúc Phương + Tổng quan về các loài nấm tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương Nội dung 2. Nghiên cứu các loài thuộc họ nấm lỗ (Polyporaceae) tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương. + Thu mẫu nấm tại VQG Cúc Phương + Xác định được thành phần loài + Phân tích đánh giá được các chỉ số đa dạng sinh học của nấm lớn.
Nội dung 3: Xác định sự phân bố và đặc điểm phân bố của họ nấm lỗ (Polyporaceae) tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương. + Tìm hiểu sự phân bố họ nấm lỗ tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương. + Đánh giá các đặc điểm phân bố của họ nấm lỗ (Polyporaceae). TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.
Lịch sử nghiên cứu nấm Lỗ. Tình hình nghiên cứu nấm Lỗ trên thế giới. Thế kỷ XVIII - XIX là giai đoạn Nấm học phát triển mạnh mẽ với nhiều công trình nổi tiếng của nhiều các tác giả. Năm 1821, Fries chia Polyporaceae thành 2 dưới chi: Daedalea và Polyporus.
Năm 1836, Elias Fries tách chi Trametes từ Daedalea là một chi riêng biệt và được công nhận Cyclomyces và chi Hexagonia là hợp lệ. Trong 1907-1908, Murill [4] công bố một phân loại họ Polyporaceae của Bắc Mỹ. Trong này, ông được coi là không ít hơn bảy mươi tám chi, đặt dưới bốn họ Porieae, Polyporeae, Fomiteae và Daedaleae. Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M.
Aime mà trong đó Kirk P. Vào đầu thế kỷ XX, nấm học phát triển rực rỡ và trở thành một ngành khoa học thực sự [5]. Nhiều công trình nghiên cứu về nấm xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Trong khoảng 30 - 40 năm nhiều chi nấm mới đã được mô tả dựa vào các đặc điểm hiển vi và nhiều chi nấm cũ được xem xét lại trên cơ sở các tiêu chuẩn phân loại hiện đại.
Kết quả là đã hình thành được một số hệ thống nấm học khá ổn định ở châu Âu, Bắc Mỹ như hệ thống của Jahn (1963), Gilbertson and Ryvarden (1993) [7]. Trong thế kỷ XX nhiều công trình nghiên cứu về nấm học đã được công bố, tiêu biểu như: C. Rea (1922) [8] với công trình Nghiên cứu Nấm đảm ở Anh; Rolf Singer (1986) [9] nghiên cứu bộ Agaricales trên toàn thế giới. Đến năm 1965 tổng kết lại có 550 loài nấm lỗ tại New Zealand.
(1996) [11] nghiên cứu nấm ở Trung Quốc “Fungi of China” đã mô tả 2400 loài với 601 chi. 4 - Theo thống kê trên thế giới đã có đến 500.000 tài liệu nói về nấm, trong đó nhiều tài liệu đề cập đến những lĩnh vực thành phần loài, đặc điểm sinh thái, đa dạng sinh học của nấm Lỗ. Theo Trần Tuấn Kha (2009), Mao Xiaolan nghiên cứu vào năm 2000 ở Trung Quốc có khoảng 6000 loài, số loài đã biết có gần 2000 loài. Phần lớn chúng thuộc các loài nấm Lỗ.
Tại Ấn Độ, nhiều nhà nấm học đã nghiên cứu về nấm Lỗ ở một số vùng khác nhau như Radarivetal đã nghiên cứu phát hiện 256 loài nấm Lỗ ở Tây Ghats bang Maharashtra trong danh lục nấm Lỗ Israel, Daniel Tura (2010) và cộng sự đã ghi chép được 242 loài thuộc 11 chi. Trong rừng mưa nhiệt đới Brazil (2002), Tatiana B. Gibertoni cũng thông báo về số loài nấm Lỗ mọc trong rừng trên các dạng khác nhau như trên gỗ, trên cây sống, trên đất. Nhà nấm học cây rừng Nhật Bản Tiến sỹ Tsutomu Hattori đã nghiên cứu nấm Lỗ ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia và Thái lan; Nakason K.K đã công bố một số loài thuộc chi Epithele (Polyporales) ở Thái Lan và một số nước khác như Côngô, Nam Phi và Đài Loan.
Đăc biệt những năm gần đây các nhà nấm học tập trung viêc phân loại nấm Linh chi Ganoderma ở các nước nhiệt đới. Mabel Gisela Torres- Torres & Laura Guzmán-Dávalos (2013) đã điếu tra phân loại nấm ở Thái Lan, Malaysia, Singapor và công bố 33 loài mới [12]. Năm 2013, nhà nấm học cây rừng Nhật Bản Tiến sỹ Tsutomu Hattori đã nghiên cứu nấm Lỗ ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia và Thái lan; Nakason K.K đã công bố một số loài thuộc chi Epithele (Polyporales) ở Thái Lan và một số nước khác như Côngô, Nam Phi và Đài Loan. Đăc biệt những năm gần đây các nhà nấm học tập trung viêc phân loại nấm Linh chi ở các nước nhiệt đới.
Mabel Gisela Torres- Torres & Laura Guzmán-Dávalos (2013) đã điếu tra phân loại nấm ở Thái Lan, Malaysia, Singapor và công bố 33 loài mới [12]. Hiện nay ở Nhật Bản, Trung Quốc và nhiều nước khác gần đây rất ưa chuộng nấm Vân Chi dùng để làm thuốc rất hiệu quả. Nấm này có Tên tiếng Anh là Turkey tails, tiếng Nhật là Kawaratake, tiếng Trung Quốc là Yun Zhi, tên khoa học là Trametes versicolor (Linnaeus :Fries) Pilat. Trước đây còn có các tên khác 5 như Coriolus versicolor, Polyporus versicolor.
Về hệ thống phân loại nấm này thuộc họ Polyporaceae, bộ Aphyllophorales, lớp Hymenomycetes, ngành Basidiomycota. Tình hình nghiên cứu nấm Lỗ ở Việt Nam [13], [14], [15] - Ở Việt Nam, nghiên cứu về thành phần loài nấm Lớn nói chung, nấm Lỗ nói riệng phải kể đến nhiều công trình của Trịnh Tam Kiệt. Năm 2014 đã công bố 1821 taxa nấm lớn trong " Danh lục nấm lớn ở Việt Nam”. Trần Văn Mão với đề tài “Góp phần nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số nấm phá gỗ ở vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh” đã công bố 239 loài.
Hội nghị Sinh học toàn quốc ở Hà Nội (1999), Ngô Anh trình bày Nghiên cứu họ nấm linh chi (Ganodermataceae) ở Thừa Thiên Huế bao gồm 35 loài thuộc 2 chi Ganoderma và Amauroderma, trong đó 10 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam; Lê Xuân Thám, Trần Hữu Độ và Hoàng Nghĩa Dũng công bố Nghiên cứu công nghệ hoá tài nguyên nấm bào ngư, loài mới Pleurotus blaoensis Thám sp. nov & Antromycopsis blaoensis Thám anam. nov tìm được ở Bảo Lộc, Lâm Đồng; Nguyễn Thị Chính, Kiều Thu Vân, Dương Đình Bi và Nguyễn Thị Đức Hiền trình bày Nghiên cứu một số hoạt chất sinh học và tác dụng chữa bệnh của nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum) Năm 2001, Lê Bá Dũng nghiên cứu về thành phần loài của chi Hexagonia Fr. ở vùng Tây Nguyên” gồm 5 loài, trong đó Hexagonia rigida Berk là loài mới cho khu hệ nấm Việt Nam.
Hội thảo quốc tế sinh học năm 2001 tại Hà Nội có các báo cáo như: Ngô Anh với công trình “Sự đa dạng về công dụng của khu hệ nấm ở Thừa Thiên Huế” gồm 326 loài trong 6 nhóm nấm có ích và có hại; Phan Huy Dục báo cáo “Nấm (Macromyces) ở vườn Quốc Gia Tam Đảo Vĩnh Phúc” công bố 41 loài, 17 họ trong 2 lớp Ascomycetes và Basidiomycetes; Trịnh Tam Kiệt và Henrich Dorfelt (2001) báo cáo “Các taxon mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam và ý nghĩa của hệ thống sinh thái của chúng” công bố 9 loài mới cho lãnh thổ Việt Nam. Tổng kết cho đến năm 2001 đã có 1250 loài thuộc khu hệ nấm Việt Nam được công bố.